Thứ Hai, 21/10/2019, 05:09:46
Internet Starts
Chào mừng Guest | Điểm Tin Mới |
Gửi Tin Nhắn Trao Đổi
200
Trạng Thái Truy Cập Website

Số người đang online: 1
Khách Xem: 1
Thành Viên: 0
« 1 2 3 4 5 6 ... 17 18 »
Trong phần này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn các kiểu test còn lại có thể hực hiện đối với Domain Controller.

Giới thiệu

Cho đến phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn khá nhiều kiểu test khác nhau có thể thực hiện trên Domain Controller của bạn bằng cách sử dụng Domain Controller Diagnostic Utility. Tuy nhiên vẫn còn đó một số kiểu test mà chúng tôi nghĩ là vẫn cần giới thiệu cho các bạn, và để kết thúc loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu các kiểu test còn lại.

Register in DNS

Nếu bạn đang làm việc trên hệ điều hành Windows thì chúng tôi chắc chắn rằng bạn sẽ biết Active Directory hoàn toàn phụ thuộc vào các dịch vụ DNS, và mỗi một host trên mạng của bạn đều yêu cầu một bản ghi Host (A) trên máy chủ DNS của tổ chức. Những gì mà nhiều người không thực sự nhận ra là rằng, khi bạn tạo một miền nào đó (đầu tiên) trong một forest, sẽ có một số bản ghi DNS cụ thể của miền sẽ được tạo bên trong thư mục có tên DomainDnsZones. Thư mục này được định vị bên trong Forward Lookup Zones trong thư mục miền.

Thư mục DomainDnsZones giữ các bản ghi cho mỗi một Domain Controller. Không có các bản ghi, các máy chủ khác trên mạng sẽ không thể tìm ra được tài nguyên của Domain Controller. Chính vì vậy mà mỗi một Domain Controller cần phải tự đăng ký bên trong DNS. Đây chính là nơi mà test Register in DNS phát huy tác dụng của nó. Test này sẽ thẩm định rằng Domain Controller có thể đăng ký một bản ghi máy chủ.

Bạn có thể thực hiện test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:RegisterInDns /DnsDomain:<Active Directory Domain DNS Name>

Cho ví dụ, nếu miền của bạn có tên Contoso.com thì lệnh cú pháp câu lệnh sẽ như sau:

DCDIAG /Test:RegisterInDns /DnsDomain:Contoso.com

Replications

Windows 2000 Server và các phiên bản sau đó của Windows Server đều sử dụng một mô hình multimaster domain. Điều này có nghĩa rằng mỗi một Domain Controller đều có một bản copy cơ sở dữ liệu Active Directory của chính nó và các nâng cấp có thể được thực hiện trực tiếp cho bất cứ copy nào. Khi một nâng cấp nào đó được thực hiện đối với cơ sở dữ liệu Active Directory thì nâng cấp sẽ được tạo bản sao đến các bộ điều khiển miền khác.

Test này sẽ kiểm tra để bảo đảm rằng các nâng cấp đang xuất hiện phù hợp. Nếu có một độ quá trễ nào đó xuất hiện trong quá trình nâng cấp thì các bộ điều khiển miền (Domain Controller) sẽ mất đồng bộ và khả năng xung đột sẽ xảy ra.

Bạn có thể thực hiện test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /TEST:Replications

RID Manager

Bất cứ khi nào bạn tạo một đối tượng Active Directory mới, chẳng hạn như một người dùng hoặc một nhóm thì Windows cũng đều gán cho nó một Security Identifier (SID) duy nhất. Security Identifier (SID) là hư cấu của một domain SID chung cho tất cả các đối tượng bên trong miền và relative identifier (RID) duy nhất với miền. RID master cung cấp cho mỗi một Domain Controller bên trong domain một số RID mà nó có thể sử dụng khi các đối tượng mới được tạo. Khi số RID gần hết thì domain controller sẽ phát một yêu cầu đến RID master để yêu cầu các RID bổ sung. Nếu Domain Controller không thể liên lạc với RID Master thì không một đối tượng bổ sung nào được tạo trên Domain Controller đó khi sắp hết số lượng RID cũ.

Test RID Manager sẽ cho phép bạn thẩm định rằng sc có thể nhận ra và liên lạc với RID Master, và rằng RID Master gồm có các thông tin thích hợp. Bạn có thể chạy test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:RidManager

Services

Trong Windows Server 2008, Active Directory hiện được liệt kê như một dịch vụ bên trong Service Control Manager. Như những gì bạn có thể đoán, Active Directory hiện phức tạp hơn một chút so với những gì bạn đầu mới xuất hiện. Active Directory Domain Service có một số dịch vụ phụ thuộc, một trong số đó phải kể đến đó là DNS Server (nếu nó được hiện diện trên máy chủ), Kerberos Key Distribution Center, Intersite Messaging và File Replication Service.

Bạn có thể sử dụng test này để bảo đảm rằng Active Directory Domain Service và tất cả các dịch vụ đang được hỗ trợ của nó hiện đang hoạt động tốt. Để thực hiện test, bạn sử dụng lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:Services

System Log

Theo tài liệu minh chứng của Microsoft, test System Log sẽ kiểm tra hệ thống để bảo đảm rằng không có lỗi nào xuất hiện. Điều này nghe test này sẽ phân tích cú pháp bản ghi sự kiện để tìm kiếm ra các lỗi. Có thể một trong số khâu trong đó sẽ thực hiện như vậy nhưng đó không phải là những gì xuất hiện ở đây khi bạn thực hiện test này.

Khi chạy test này, Domain Controller Diagnostic Utility sẽ bắt dầu bằng cách nhận diện máy chủ của nó và Active Directory forest. Sau đó nó sẽ thực hiện hành động kiểm tra kết nối, bản ghi hệ thống và một loạt các test partition trên các Active Directory Partitions (ForestDnsZones, DomainDnsZones, Schema, Configuration,…).

Bạn có thể chạy test System Log bằng cách nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /Test:SystemLog

Topology

Windows Server sử dụng Directory System Agent (DSA) để cung cấp sự truy cập đến các kho dữ liệu. Directory Service Agent là hư cấu của các dịch vụ khác nhau và các quá trình làm cho thuận tiện sự truy cập đó. DSA là một phần của hệ thống Local System Authority và được truy cập thông qua giao thức LDAP.

Khi nhiều bộ điều khiển miền cùng sử dụng một lúc, mỗi một Domain Controller phải có một thông tin về topo để liên kết nó với các DSA khác. Test này sẽ hợp lệ hóa topo mà Windows đã tạo ra được kết nối hoàn toàn với tất cả DSA.

Một thứ quan trọng cần phải biết về test này là, nó là một trong những kiểu test hiếm mà không chạy mặc định. Nó phải được thực thi một cách thủ công. Bạn có thể thực hiện test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:Topology

Verify References

Test Verify References bảo đảm rằng các tham chiếu hệ thống được yêu cầu bởi File Replication Service và sơ sở hạ tầng tạo bản sao chung không bị đụng chạm. Bạn có thê thực hiện bằng cách sử dụng lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:VerifyReferences

Verify Enterprise References

Test Verify Enterprise References cũng giống như Verify References. Nó kiểm tra để bảo đảm rằng các tham chiếu được yêu cầu bởi File Replication Service và sơ sở hạ tầng tạo bản sao chung là không bị đụng chạm. Những gì tạo nên sự khác biệt giữa hai lệnh này là nó kiểu tra các tham chiếu của dịch vụ bản sao file và sơ sở hạ tầng tạo bản sao nói chung trên toàn bộ các Domain Controller trong toàn doanh nghiệp.

This is another one of those tests that are not run by default. You can perform this test by entering the following command:

Đây cũng là một test không chạy mặc định và bạn có thể thực hiện băng cách sử dụng lệnh sau:

DCDIAG /Test:VerifyEnterpriseReferences

Verify Replicas

Đây là một test khác cũng không chạy mặc định. Ý tưởng cơ bản phía sau test này là Windows cho phép bạn tạo các partition thư mục ứng dụng và các partition đó có thể được tái tạo sang các máy chủ khác. Test này sẽ cho phép bạn bảo đảm rằng tất cả các máy chủ bản sao đều chứa các bản sao thích hợp. Thực hiện test bằng sử dụng lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:VerifyReplicas

Kết luận

Như những gì các bạn thấy, Domain Controller Diagnostic Utility có thể thực hiện rất nhiều các kiểu test khác nhau. Qua bài chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn rất nhiều kiểu test mà các bạn có thể thực hiện, cuối cùng xin chúc các bạn thành công.

Views: 333 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Trong phần tiếp theo này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số test có thể thực hiện với Domain Controller Diagnostic Utility.

Giới thiệu

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn một số kiểu test để các bạn có thể thực hiện bằng cách sử dụng Domain Controller Diagnostic Utility. Mặc dù cho đến đây, chúng tôi đã giới thiệu khá nhiều kiểu test nhưng vẫn có đó nhiều kiểu mà các bạn có thể thực hiện. Và trong phần này, chúng tôi sẽ chọn ra một trong số những kiểu tiêu biểu đó và giới thiệu để các bạn có thể thực hiện với Domain Controller Diagnostic Utility.

Locator Check

Locator Check là một trong những kiểu test quan trọng mà bạn có thể thực hiện bằng DCDIAG. Vấn đề chắc hẳn các bạn đã biết, Active Directory gán các role Flexible Single Master Operations (FSMO) khác nhau cho các bộ điều khiển miền nào đó bên trong forest. Các role FSMO toàn cục ban đầu được gán cho bộ điều khiển miền đầu tiên trong forest. Tuy nhiên cũng có một số role FSMO mức miền được gán mặc định cho bộ điều khiển miền đầu tiên trong mỗi miền.

Locator Check sẽ thực hiện quá trình test để bảo đảm rằng các máy chủ đang nắm giữ các role FSMO toàn cục được biết đến và có thể được định vị. Quan trọng hơn nữa, nó kiểm tra để bảo đảm rằng các máy chủ giữ các role FSMO toàn cục đang đáp trả cho các yêu cầu.

Việc thực hiện test này tương đối đơn giản. Tất cả những gì bạn cần thực hiện là nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /TEST:LocatorCheck

Rõ ràng, đây là một ví dụ đơn giản nhất về cách bạn sẽ chạy test locator check. Ngoài ra bạn vẫn có các tùy chọn khác như chỉ định bộ điều khiển miền nào đó và thiết lập các tiêu chuẩn thẩm định như bạn vẫn thực hiện với các test khác.

Intersite Test

Việc phụ thuộc vào topo của Active Directory, Intersite cũng là một test quan trọng. Khi bạn chạy test này, Domain Controller Diagnostic Utility sẽ thực hiện một loạt các hành động test để xem có bất cứ vấn đề gì với các đầu cầu mà có thể làm cho các thông tin Active Directory bị tạo bản sao qua các biên giới của site hay không.

Cú pháp được sử dụng để chạy test này gần giống như cú pháp được sử dụng cho locator check. Nếu bạn muốn thực hiện, chỉ cần nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /Test:Intersite

KCCEvent

Một test có liên quan đến việc sao chép khác đó là KCCEvent. Test này được sử dụng để bảo đảm rằng Knowledge Consistency Checker (KCC) đang làm việc, và rằng liệu nó có đang thực hiện nhiệm vụ mà không gây ra bất cứ lỗi nào. Bạn có thể chạy KCCEvent bằng cách nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /Test:KCCEvent

KnowsofRoleHolders

Knows of Role Holders là kiểu test để kiểm tra xem Directory Service Agent có biết máy chủ nào đang giữ các role Flexible Single Operations Master. Nếu chỉ muốn chạy một cách đơn giản thì bạn có thể thực hiện bằng cách nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /Test:KnowsOfRoleHolders

Mặc dù test này sẽ thường thực hiện khá tốt công việc của nó, song đôi khi bạn có thể muốn kiểm tra xem bộ điều khiển miền nào mà Directory Service Agent nghĩ rằng đang nắm giữ các role. Nếu bạn muốn nhận định các máy chủ riêng biệt, cần phải chạy test này trong chế độ chi tiết. Để thực hiện điều đó, hãy nhập vào lệnh sau:

DCDIAG /Test:KnowsofRoleHolders /v

Machine Account

Trong môi trường Active Directory, các máy chủ và máy trạm được gia nhập vào một miền. Quá trình gia nhập một máy vào một miền này cần phải tạo cho mỗi máy một tài khoản. Giống như tài khoản người dùng, tài khoản máy cũng có một mật khẩu tương ứng và một số các thuộc tính khác được thiết kế để phân biệt các máy với nhau. Nếu tài khoản máy bị lỗi hoặc mất đồng bộ với Active Directory thì máy tương ứng với tài khoản đó sẽ không thể kết nối vào miền. Tuy nhiên, có một test giúp bạn có có thể kiểm tra được sự toàn vẹn của tài khoản máy. Bạn có thể thực hiện test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:MachineAccount

Trong quá trình làm việc với Active Directory, rất có thể xuất hiện một số tình huống mà nguyên nhân ở đó là mật khẩu của tài khoản không được đồng bộ với mật khẩu của tài khoản máy được lưu trong cơ sở dữ liệu Active Directory.

Nếu tài khoản của máy gặp phải vấn đề như vậy, có một số tiếp lệnh có thể giúp bạn sửa vấn đề đó. Một trong những tiếp lệnh như vậy là /FixMachineAccount, tiếp lệnh này sẽ thiết lập lại cờ cho các tài khoản. Nếu không khắc phục được vấn đề trên thì bạn có thể cần phải tạo lại tài khoản máy bằng cách sử dụng tiếp lệnh /RecreateMachineAccount.

Naming Context Security Descriptors

Một trong những test khó hiểu phải kể đến ở đây là kiểm tra xem các bộ nhận diện bảo mật trên các bối cảnh tên (naming context) có hoạt động đúng không. Nếu các bộ nhận diện bảo mật không hợp lệ thì sự tái tạo có thể sẽ thất bại. Bạn có thể chạy test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:NCSecDesc

NetLogons

Một test tương tự có liên quan đến bản sao đó là NetLogons. Test này sẽ kiểm tra xem bản sao có bị thất bại vì thiếu đặc quyền đăng nhập hay không. Bạn có thể chạy test này bằng cách nhập vào lệnh dưới đây:

DCDIAG /Test:NetLogons

Objects Replicated

Một test quan trọng nữa có liên quan đến quá trình tạo bản sao là Objects Replicated. Test này được sử dụng chính để xác nhận rằng các tài khoản máy tính đã sao chép trên tất cả các bộ điều khiển miền của bạn, nhưng nó cũng được sử dụng để kiểm tra xem các kiểu đối tượng khác cũng có được sao chép chưa.

Để sử dụng test này, bạn sẽ phải biết tên riêng (DN) của đối tượng muốn test. Nếu đối tượng mà bạn muốn kiểm tra không phải là tài khoản máy thì bạn cần phải biết được naming context của đối tượng. Cú pháp cho test này như sau:

DCDiag /Test:ObjectsReplicated /ObjectDN:<object’s distinguished name> /N:<object’s naming context>

Outbound Secure Channels

Khi các máy lưu các mật khẩu của người dùng và các thiết lập bảo mật khác, thì Domain Controller là một trong những máy chủ nhậy cảm nhất trên mạng. Chính vì vậy, Microsoft đã cấu hình các Domain Controller để truyền thông với nhau trên một kênh an toàn bất cứ khi nào có thể. Điều này giúp ngăn chặn được vấn đề người khác sử dụng tấn công sniff để đánh cắp các thông tin Active Directory khi nó tạo bản sao từ một Domain Controller này sang Domain Controller khác.

Theo định nghĩa, một kênh an toàn là một kết nối RPC (remote procedure call) được thẩm định giữa hai máy trong một miền với bối cảnh bảo mật được thiết lập để sử dụng cho việc ký và mã hóa các gói RPC.

Chính vì vậy không hề ngạc nhiên khi Domain Controller Diagnostic Utility cung cấp một kiểu test để kiểm tra các kênh an toàn gửi đi. Đây là một trong những kiểu test không được chạy mặc định, chính vì vậy bạn cần phải tự chạy nó nếu muốn sử dụng. Cú pháp của lệnh như sau:

DCDIAG /Test:OutboundSecureChannels /TestDomain:<yourdomain>

Thông thường, test này chỉ kiểm tra các Domain Controller bên trong site hiện hành. Tuy nhiên bạn cũng có thể test các site bên ngoài bằng cách thêm vào tiếp lệnh /NoRestriction.

Kết luận

Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn thêm một số kiểu test có thể thực hiện với bộ điều khiển miền của mình bằng cách sử dụng tiện ích chuẩn đoán Domain Controller Diagnostic Utility. Tin tưởng nó hay không, các bạn hãy thực hiện để biết đích xác về kết quả của nó. Do vẫn còn một số kiểu test nữa nên trong phần tiếp theo của loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp cho các bạn về các test còn lại.

Views: 341 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn thêm một số bài test có thể thực hiện trên công cụ chuẩn đoán Domain Controller.

Chúng tôi đã kết thúc phần trước trong loạt bài này bằng việc nói về một số kiểu test riêng mà bạn có thể thực hiện bằng công cụ chuẩn đoán Domain Controller. Trong phần này, chúng tôi sẽ tiếp tục và đề cập đến một số kiểu test khác.

DCPROMO

Một số kiểu test hiện hữu thông qua tiện ích chuẩn đoán Domain Controller thường ít được biết đến. Tuy nhiên ngược với sự thật đó chúng lại rất hữu dụng, test DCPROMO là một trong số các trường hợp đó. Nó được thiết kế để cho phép bạn test sự sẵn sàng của máy chủ trước khi tăng cường vào một domain controller. Khi đó nó giúp cho việc tăng cường một máy chủ vào một domain controller sẽ khá là một quá trình đơn giản. Bạn chỉ cần nhập vào lệnh DCPROMO, kích Next một vài lần là có thể tìm được những vấn đề cần phải điều chỉnh.

Nếu sử dụng test DCPROMO, bạn sẽ phải sử dụng ít nhất hai chuyển đổi lệnh thêm với nó. Chuyển đổi lệnh đầu tiên mà bạn cần phải sử dụng đó là /DNSDomain. Bạn phải sử dụng chuyển đổi lệnh này để mách bảo tiện ích chuẩn đoán Domain Controller miền nào máy chủ sẽ được tạo một Domain Controller bên trong.

Tiếp sau chuyển đổi lệnh /DNSDomain là chuyển đổi lệnh thứ hai nhằm mách bảo cho tiện ích chuẩn đoán những ý định của bạn cho máy chủ là gì. Cho ví dụ, nếu máy chủ sẽ là một Domain Controller nằm trong một forest mới thì nó cần phải được test khác với náy chủ sẽ là một Domain Controller mở rộng trong miền đang tồn tại.

Các chuyển đổi lệnh mà bạn sử dụng ở đây là để mách bảo tiện ích chuẩn đoán cách Domain Controller sẽ phù hợp với cấu trúc Active Directory đang tồn tại như thế nào. Các chuyển đổi lệnh đó là:

/NewForest
/NewTree
/ChildDomain
/ReplicaDC

Cho ví dụ, nếu bạn muốn sử dụng máy chủ như một Domain Controller mở rộng trong một miền đang tồn tại có tên Contoso.com thì cú pháp đầy đủ của lệnh sẽ là:

DCDIAG /test:DCPROMO /DNSDomain:Contoso /ReplicaDC

Tuy nhiên có một vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là nếu bạn sử dụng chuyển đổi lệnh /NewTree thì bạn sẽ phải sử dụng chuyển đổi lệnh thứ ba mang tên /ForestRoot. Chỉ cần đặt sau chuyển đổi lệnh /ForestRoot một dấu hai chấm và tên của miền gốc (/ForestRoot:Contoso.com).

DNS

Có thể nhiều bạn cho tiện ích chuẩn đoán Domain Controller như một cơ chế cho việc chạy các test chuẩn đoán đối với các Domain Controller. Tuy vậy, tiện ích này lại có một loạt các test đã được thiết kế để giúp bạn chuẩn đoán các vấn đề xảy ra với máy chủ DNS của bạn. Điều này không hề ngạc nhiên vì Active Directory hoàn toàn phụ thuộc vào Domain Name Services và Domain Controller đầu tiên trong forest thường được cấu hình để thực hiện như một máy chủ DNS.

DNS test được sử dụng cho khá nhiều kiểu test khác nhau, bất cứ test nào cũng đều có thể được thực hiện một cách riêng rẽ. Nếu bạn gọi một DNS test nhưng không chỉ định bất cứ một chuyển đổi phụ thêm nào thì công cụ chuẩn đoán sẽ chạy tất cả như các test nhỏ bên trong nó. Test được bỏ qua bao gồm các tên miền ngoài. Chúng tôi sẽ giới thiệu về kiểu test này trong chốc lát. Tuy nhiên trước khi thực hiện, chúng tôi muốn cung cấp cho bạn một danh sách các test có thể được thực hiện khi DNS test chạy mà không có bất cứ một chuyển đổi lệnh mở rộng nào. Hình A bên dưới thể hiện một số kiểu DNS test mặc định như thế nào khi được thực thi.

Kiểu test

Chuyển đổi lệnh cho việc thực hiện test

Phần mô tả cho test

Basic diagnostic test

/DNSBasic

Đây là một test chuẩn đoán lỗi cơ bản, được thực hiện bất cứ lúc nào khi thực hiện một DNS test. Test này không thể bỏ qua, không quan tâm đến chuyển đổi lệnh nào được sử dụng.

Forwarder and root hint test

/DNSForwarders

Kiểm tra người chuyển tiếp của máy chủ DNS và root hint của nó.

Delegation test

/DNSDelegation

Kiểm tra sự ủy nhiệm của máy chủ DNS

Dynamic Update Test

/DNSDynamicUpdate

Kiểm tra xem phần nào của không gian tên DNS mà máy chủ DNS có thẩm quyền.

Record Registration Test

/DNSRecordRegistration

Thẩm định rằng các bản ghi có thể được đăng ký trên máy chủ DNS.

Hình  A

Hình B: Đây là những gì thấy được khi thực hiện DNS test mặc định

Ở trên chúng tôi đã đề cập rằng chỉ có test không được chạy mặc định khi bạn chỉ định rằng bạn muốn test cấu hình DNS là test giải pháp tên bên ngoài. Có một số chuyển đổi lệnh bạn có thể sử dụng nếu muốn chạy kiểu test này.

Một tùy chọn ở đây là sử dụng chuyển đổi lệnh /DNAAll. Chuyển đổi lệnh này mách bảo tiện ích chuẩn đoán chạy tất cả các test có liên quan đến DNS, gồm có test giải pháp tên bên ngoài. Cú pháp của lệnh này như sau:

DCDIAG /TEST:DNS /DNSAll

Bạn cũng có một tùy chọn cho việc gọi một test tên bên ngoài nào đó thay cho việc bó bọc test với mọi test có liên quan đến DNS mà tiện ích có thể chạy. Nếu bạn muốn gọi một test tên bên ngoài nào đó, bạn có thể thực hiện bằng cách chỉ định chuyển đổi lệnh /DNSResolveExtName.
Trong trường hợp bạn vẫn đang phân vân, kiểu test giải pháp tên bên ngoài có thể thử giải quyết với tên miền Microsoft.com. Mặc dù vậy, bạn có tể chỉ định một tên miền bên ngoài khác để sẽ được giải quyết bằng việc thêm chuyển đổi lệnh /DNSInternetName, kết hợp với tên mà bạn muốn giải quyết.

SysVolCheck

Một trong những kiểu test đơn giản nhất mà tiện ích chuẩn đoán có thể thực hiện là SysVolCheck. Kiểu test này thực hiện một số test cơ bản đối với các partition Active Directory khác nhau gồm có các vùng DNS của forest, vùng DNS của miền, lược đồ, partition cấu hình và trên các partition miền. Bạn có thể thấy những gì ở kiểu test SysVolCheck này khi thực thi trong hình C.

Hình C

Kiểu test SysVolCheck thực hiện một số test kết nối ban đầu, sau đó test các partition Active Directory khác.

FrsEvent

Test cuối cùng mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là FRSEvent. FRS chính là viết tắt của cụm từ File Replication Service. Kiểu test này sẽ kiểm tra xem  File Replication Service có cảm thấy bất cứ lỗi hoạt động nào không. Điều này là quan trọng vì nếu FRS gặp sự cố thì các Domain Controller có thể mất đồng bộ, điều đó có thể làm cho các chính sách không được áp dụng đúng cách cho tới khi vấn đề được khắc phục.

Kết luận

Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn một số kiểu test để các bạn có thể chạy bằng cách sử dụng tiện ích chuẩn đoán Domain Controller. Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm một số kiểu test nữa.

Views: 428 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Trong phần 3 này chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho các bạn về cách làm việc với tiện ích chuẩn đoán Domain Controller bằng cách khảo sát một số bài test.

Cho đến đây các bạn đã biết được rằng Domain Controller Diagnostic Utility có rất nhiều vấn đề mà bạn có thể sử dụng để cấu hình tiện ích chạy theo cách thích hợp nhất cho mỗi tình huống riêng của mình. Chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về các tiếp lệnh, còn bây giờ sẽ quay trở về các test riêng biệt mà tiện ích có khả năng thực hiện.

Advertising – quảng bá dịch vụ

Bài test đầu tiên mà bạn có thể thực hiện là advertising. Test này thực hiện một hành động kiểm tra để tìm ra xem Directory System Agent hiện có advertising bản thân nó hay không. Nếu Directory System Agent hiện đang advertising bản thân nó thì test sẽ bảo đảm rằng sự quảng bá sẽ liệt kê domain controller với những khả năng của Directory System Agent.

Trong trường hợp bạn không quen với khái niệm Directory System Agent, thì cần phải hiểu rằng, Directory System Agent (thường được viết tắt là DSA), là một bộ sưu tập các dịch vụ và các quá trình chạy trên domain controller. Công việc của nó là cung cấp sự truy cập vào cơ sở dữ liệu Active Directory. DSA là một thành phần con trong Local System Authority (LSA). Lý do tại sao nó lại liên quan đến các quá trình và dịch vụ như vậy là vì khả năng cung cấp nhiều cơ chế để máy khách có khả năng truy cập.

Có thể được biết đến nhiều nhất trong các cơ chế này chính là Light Weight Directory Access Protocol, hay còn được viết tắt là LDAP. LDAP là một giao thức mà thông qua đó, hầu hết các hệ điều hành Windows gần đây đều sử dụng để truy vấn Active Directory. Các máy khách cũ hơn vẫn yêu cầu sự truy cập DSA, tuy nhiên điển hình vẫn được thực hiện thông qua Security Account Manager (SAM). Điều này là do không có cơ chế nào để truy cập DSA. Cho ví dụ, Microsoft exchange truyền thông với DSA bằng các cuộc gọi MAPI. Các DSA cũng truyền thông với một DSA khác bằng cách sử dụng các cuộc gọi thủ tục từ xa.

CheckSDRefDom

Test này sẽ thẩm định rằng tất cả các partition chứa thư mục ứng dụng có bộ chỉ thị bảo mật cho các miền tham chiếu thích hợp. Bài test này sẽ vô nghĩa với những người không thành thạo về Active Directory. Chính vì vậy chúng tôi sẽ dành một chút thời gian để giới thiệu về bài test này là gì.

Có thể các bạn đã biết điều này, mỗi đối tượng trong Active Directory gồm có một bộ chỉ thị bảo mật. Công việc của bộ chỉ thị bảo mật là duy trì một danh sách các thông tin điều khiển truy cập. Thông thường, bộ chỉ thị bảo mật đi kèm thường làm việc tốt cho việc duy trì bản ghi về những ai đã truy cập và các thành phần mà họ truy cập là thành phần nào. Tuy nhiên vấn đề có thể xuất hiện ở đây nếu một tổ chức sử dụng các partition thư mục ứng dụng (trước đây được biết đến với tên Active Directory Application Mode hoặc ADAM). Lý do cho điều đó là rằng các partition thư mục ứng dụng là miền độc lập. Trong thực tế, có thể tạo một partition thư mục ứng dụng và sau đó tạo bản sao cho các bộ điều khiển miền khác trong nhiều miền. Do có thể thực hiện được điều đó nên Windows gán một bộ chỉ thị bảo mật có tham chiếu miền co mỗi một partition thư mục ứng dụng khi được tạo.

Miền tham chiếu này sẽ thông báo cho bạn về partition thư mục ứng dụng mà tên miền nào sử dụng khi một giá trị miền cần phải nhập vào bên trong một bộ chỉ thị bảo mật. Windows có rất nhiều rule để phân biệt tên miền nào được sử dụng. Đơn giản hóa, nếu bạn tạo một partition miền ứng dụng mới không phải là con của bất cứ partition nào và miền tham chiếu của bộ chỉ thị bảo mật sử dụng miền forest root như tên miền để sử dụng bên trong các bộ chỉ thị bảo mật khác nhau. Nếu partition thư mục ứng dụng là con của một đối tượng nào đó thì nó sẽ đảm nhận miền tham chiếu bộ chỉ thị bảo mật của đối tượng cha của nó.

CheckSecurityError

Test tiếp theo mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn là Check Security Error. Không giống như test trước mà chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn. Check Security Error không hoạt động mặc định. Nếu muốn chạy test này, bạn phải tự chỉ định nó bên trong lệnh DCDIAG.

Khi chạy test này, DCDIAG sẽ tìm ra các lỗi liên quan đến vấn đề bảo mật, cũng như các lỗi có thể liên quan, sau đó cố gắng chuẩn đoán vấn đề. Có một tham số tùy chọn mà bạn có thể sử dụng với tiếp lệnh này. Tiếp lệnh /ReplSource cho phép bạn chỉ định bộ điều khiển miền cụ thể để chạy test. Bạn có thể sử dụng bất cứ bộ điều khiển miền nào mong muốn, không cần quan tâm đến trạng thái lỗi của nó hoặc nó có phải là đối tác hiện hành hay không. Đơn giản chỉ cần nhập vào tên của test (CheckSecurityError), và gắn thêm vào đó tiếp lệnh /ReplSource, dấu hai chấm và tên của domain controller mà bạn muốn test.

Connectivity

Connectivity là một trong những test hữu dụng nhất mà bạn có thể thực hiện với nó. Trong thực tế, test này rất quan trọng đến nỗi thậm chí DCDIAG không cho phép bạn bỏ qua. Nếu bạn chạy một instance mặc định của DCDIAG thì Connectivity sẽ chạy hoàn toàn tự động.

Connectivity sẽ kiểm tra xem các bộ điều khiển miền đã được đăng ký trong DNS chưa. Nó cũng kiểm tra xem liệu nó có thể ping mỗi domain controller và có thể thiết lập được kết nối LDAP và RDP hay không.

CrossRefValidation

Đây là một test mà bạn sẽ không thể thấy nhiều tài liệu nó về nó. Những gì mà chúng tôi có thể giới thiệu cho các bạn về nó cũng giống như các tham chiếu không chính thức. Nếu các bạn bắt gặp một lỗi hợp lệ hóa tham chiếu thì vấn đề có thể được giải quyết bằng cách sử dụng ADSI edit để remove đối tượng gây lỗi đó.

Chúng tôi cũng muốn chỉ ra rằng nếu sử dụng ADSI edit sai, bạn có thể phá hủy Active Directory của mình. Chính vì vậy, hãy thực hiện một backup toàn bộ trạng thái hệ thống cho các bộ điều khiển miền từ trước khi thực hiện bất cứ sự thay đổi nào.

CutOffServers

Test cuối cùng của chúng tôi là về Cut off Servers. Ý tưởng cơ bản nằm trong test này là trong hầu hết các trường hợp, các bộ điều khiển miền đều có một hoặc nhiều đối tác bản sao. Nếu đối tác sao chép của domain controller gặp vấn đề thì domain controller có thể sẽ không được cập nhật các nâng cấp của Active Directory và DCDIAG sẽ báo cáo lỗi Cut off Servers.

Một mánh có thể giải quyết được vấn đề này là bạn phải chỉ ra những đối tác bản sao là domain controller là gì. Phương pháp thực tế có nhiều thay đổi phụ thuộc vào các phiên bản Windows, tuy nhiên trong Windows Server 2003, bạn có thể tra cứu các đối tác bản sao thông qua Active Directory Site and Services console.

Khi mở giao diện hình cây, bạn hãy mở mục Site để hiển thị danh sách các site trong Active Directory của mình. Tiếp đến, kích đúp vào site chứa domain controller mà bạn muốn kiểm tra. Tiếp đến, mở phần thư mục Servers, sau đó là thư mục tương ứng với tên của domain controller mà bạn quan tâm đến. Cuối cùng là kích đúp vào mục NTDSSettings, khi đó Windows sẽ hiển thị danh sách các đối tượng kết nối. Danh sách này sẽ hiển thị các đối tác bản sao trong cột From Server.

Kết luận

Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về một số bài test chạy với tiện ích DCDIAG. Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho các bạn về một số bài test khác.

Views: 385 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Phần hai này chúng tôi sẽ tiếp tục loạt bài về làm việc với Domain Controller Diagnostic Utility bằng cách giới thiệu về một số tiếp lệnh bổ sung.

Trong phần đầu của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn rằng, nếu muốn chuẩn đoán các vấn đề với một domain controller, bạn chỉ cần nhập vào lệnh DCDIAG, hoặc có thể sử dụng bất cứ tiếp lệnh hiện hữu nào phù hợp để kiểm tra các thuộc tính cụ thể của domain controller quan tâm. Trong phần hai này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số tiếp lệnh nữa, tuy nhiên số lượng các tiếp lệnh có thể giới thiệu là rất lớn nên trong bài này chúng tôi chỉ giới thiệu một số tiếp lệnh điển hình sau đó sẽ giới thiệu về một số bài test cho một vài trường hợp riêng mà các bạn có thể tự thực hiện.

/C

Chúng tôi đã đề cập rằng, chỉ cần nhập vào lệnh DCDIAG mà không cần bất cứ tiếp lệnh nào, Domain Controller Diagnostic Utility sẽ thực hiện một bộ công cụ đầy đủ cho việc test domain controller của bạn. Tuy nhiên có một số test mà Domain Controller Diagnostic Utility có khả năng thực hiện nhưng nó không thực hiện một cách mặc định đơn thuần như vậy.

Nếu bạn không thực sự chắc chắn về những gì sẽ diễn ra với domain controller của mình, hãy chạy lệnh DCDIAG kèm theo với tiếp lệnh /C. Thao tác này sẽ mách bảo DCDIAG rằng bạn muốn thực hiện một tập toàn diện các test. Domain Controller Diagnostic Utility sẽ chạy mọi test màm nó biết cách chạy, trừ các test DCPROMO và RegisterInDNS, đây là hai test mà chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn sau.

Bạn cần phải lưu ý rằng việc chạy một tập toàn bộ các test sẽ làm tiêu tốn rất nhiều thời gian. Nếu có các test mà bạn biết rằng không cần chạy, khi đó bạn có thể sử dụng tiếp lệnh /C kết hợp với tiếp lệnh /SKIP. Sau đó nối thêm vào dấu hai chấm và tên của test mà bạn muốn bỏ qua.

/F

Ở phần đầu của phần 1, chúng tôi đã giới thiệu những gì có thể chạy với lệnh DCDIAG khi không có việc chỉ định các tiếp lệnh như vậy. Bạn có thể quay trở lại để tham khảo trong phần 1, đầu ra rõ ràng là khá dài. Khi chúng tôi tạo một capture màn hình đó, chúng tôi chỉ chạy một tập mặc định các test cho domain controller của mình. Đầu ra có thể sẽ dài hơn rất nhiều nếu  chỉ định các test bổ sung hoặc nếu các test phát hiện ra có các vấn đề nào đó với domain controller.

Trong một số trường hợp, việc đọc kết quả thu được từ màn hình khi các test được thực hiện là không thiết thực. DCDIAG có thể xuất ra dữ liệu nhanh hơn khả năng đọc của bạn. Vậy có cách giải quyết nào cho trường hợp này. Đó chính vai trò xuất hiện của tiếp lệnh /F. Tiếp lệnh này cho phép bạn có thể ghi các kết quả test vào một file bản ghi. Theo cách đó, có thể đọc các kết quả thu được một cách thoải mái. Quan trong hơn nữa là có được bản copy vĩnh viễn đầu ra mà bạn muốn tham khảo này.

Để sử dụng tiếp lệnh /F, chỉ cần nối thêm dấu hai chấm và đường dẫn, tên file của file bản ghi  muốn tạo. Cho ví dụ, nếu muốn tạo một file bản ghi mang tên TEST.LOG, hãy nhập DCDIAG /F:TEST.LOG. Cần lưu ý rằng khi chỉ định tiếp lệnh /F, đầu ra sẽ được chuyển hướng hoàn toan đến một file bản ghi. Điều này có nghĩa rằng đầu ra test không phải ghi tất cả ra màn hình. Với một số hoạt động liên quan đến nhiều test, máy chủ có thể gặp trục trặc nhưng các test vẫn được thực hiện.

/FIX

Cho đến đây, tất cả các tiếp lệnh mà chúng tôi đã giới thiệu là các phương pháp chuẩn đoán nguyên bản. Khi bạn sử dụng chúng, chúng sẽ làm cho DCDIAG chạy các test của nó theo các cách nào đó, tuy nhiên DCDIAG chỉ báo cáo các kết quả test mà không thể khắc phục được vấn đề mà nó có thể tìm thấy.

Nếu DCDIAG báo cáo có vấn đề nào đó, bạn cần phải sửa các vấn đề này bằng cách chỉ định tiếp lệnh /FIX. Mặc dù tiếp lệnh này rất đơn giản vì nó không yêu cầu bạn cung cấp bất cứ thuộc tính bổ sung nào, nhưng có một số thứ khá quan trọng cần biết về cách sử dụng nó.

Trước khi có thể sử dụng tiếp lệnh /FIX, cần nhớ những gì đang thực hiện. Bạn đang lệnh cho một tiện ích tự động tiến hành các thay đổi đối với domain controller của mình, điều có nghĩa rằng đang thay đổi một cách mò mẫm Active Directory. Domain Controller Diagnostic Utility được thiết kế để khi sử dụng tiếp lệnh /FIX, nó sẽ chỉ thực hiện việc sửa chữa và cứ tưởng rằng điều đó là an toàn. Tuy nhiên, hành động sử dụng tiếp lệnh này có liên quan đến việc tạo các thay đổi đến domain controller làm cho chúng tôi phải nhắc nhở các bạn phải cực kỳ thận trọng. Tiếp lệnh này được thiết kế với mục đích an toàn, tuy nhiên bất cứ lúc nào làm việc với những vấn đề phức tạp như domain controller thì diễn biến của nó hoàn toàn không phải lúc nào cũng vậy.

Đề phòng trường hợp đó, chúng tôi khuyên các bạn không nên sử dụng tiếp lệnh /FIX khi mới sử dụng DCDIAG mà thay vào đó nên chạy các test của mình, cần phải bỏ ra thời gian để đánh giá các kết quả thu được trước khi sử dụng tiếp lệnh /FIX. Nếu quyết định sử dụng tiếp lệnh nguy hiểm này, chúng tôi khuyên các bạn hãy thực hiện một backup đầy đủ cho domain controller mục tiêu trước khi thực hiện.

Nếu bạn là người muốn vượt rào, hãy đề phòng trước cho việc thực hiện sửa domain controller là cài đặt Windows trên một máy tính dự phòng, sau đó cấu hình máy tính đó hoạt động như một domain controller. Khi thực hiện xong công việc đó, bạn hãy đợi cho đến khi quá trình tạo bản sao hoàn tất, sau đó hãy tiến hành các thử nghiệm của mình. Bằng cách đó bạn có thể xây dựng lại Active Directory nếu có vấn đề gì đó không  hay đối với tiến trình sửa chữa.

/TEST

Tiếp lệnh cuối cùng mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn đó là /TEST. Cho tới đây, hầu hết các tiếp lệnh dòng lệnh mà chúng tôi giới thiệu thiên về việc điều khiển Domain Controller Diagnostic Utility hành động khi chạy các test khác nhau. Bạn có thể thấy rằng Domain Controller Diagnostic Utility chạy một tập các test mặc định, nhưng cũng có thể sử dụng cả tiếp lệnh /C hoặc tiếp lệnh /SKIP để chạy các test bổ sung tương ứng.

Điểm mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn đến lúc này nằm trong giả định rằng bạn sẽ chạy nhiều test.  Khi đó tiếp lệnh /TEST sẽ chỉ định một cách đơn giản tên của test mà bạn muốn chạy. Sau đó chỉ cần nối thêm dấu hai chấm và tên của test vào sau tiếp lệnh này.
Cần lưu ý rằng, không thể sử dụng tiếp lệnh /TEST để chạy nhiều test. Như những gì bạn có thể hình dung, tiếp lệnh /TEST không thể tương thích với tiếp lệnh /SKIP vì hai tiếp lệnh lại mâu thuẫn nhau.

Kết luận

Trong bài này chúng tôi đã giới thiệu một số chuyển tiếp lệnh để các bạn có thể sử dụng với Domain Controller Diagnostic Utility. Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng tôi sẽ tập trung về các bài test riêng biệt mà các bạn có thể tự thực hiện.

Views: 328 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về tiện ích chuẩn đoán lỗi Domain Controller, cách sử dụng chúng như thế nào để khắc phục các vấn đề sự cố đối với Active Directory.

Các bộ điều khiển miền - Domain Controller - chính là phần xương sống đối với bất kỳ một mạng sử dụng hệ điều hành Windows nào. Chính vì lẽ đó nên nếu các bộ điều khiển miền của bạn không làm việc thì Active Directory cũng sẽ không làm việc. Nếu Active Directory không làm việc thì người dùng không thể đăng nhập, các chính sách nhóm sẽ không được thực thi và toàn bộ các tính năng khác cũng không có sẵn. May thay, Windows có đi kèm một công cụ mà bạn có thể sử dụng nhằm giữ cho các bộ điều khiển miền của mình chạy một cách êm ái. Công cụ này được gọi là công cụ chuẩn đoán Domain Controller. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách sử dụng công cụ  này để thực hiện một số hành động bảo trì cơ bản và chuẩn đoán về các bộ điều khiển miền.

Trước khi bắt đầu

Công cụ chuẩn đoán Domain Controller hiện là một phần của Windows. Với mục đích của bài viết này, chúng tôi chỉ làm việc với phiên bản của tiện ích này có trong Windows Server 2008. Tuy nhiên hầu hết nhưng không phải là tất cả các tính năng mà chúng tôi sẽ nói về đều có sẵn trong Windows Server 2003 SP1. DCDIAG  đã tồn tại trước Windows Server 2003 SP1 nhưng nhiều lệnh ngày nay sử dụng đã được giới thiệu trong phiên bản Windows Server 2003 SP1 này.

Bạn có thể truy cập vào công cụ chuẩn đoán Domain Controller bằng cách chạy lệnh DCDIAG từ nhắc lệnh của Windows.

Chạy công cụ chuẩn đoán Domain Controller

Nếu bạn muốn giữ đơn giản hóa mọi thứ, hãy chạy công cụ này bằng cách nhập vào lệnh DCDIAG trong cửa sổ nhắc lệnh của Windows. Bằng cách thực hiện như vậy, tiện ích sẽ thực hiện một loạt các kiểm tra đối với Domain Controller mà bạn được kết nối với. Bạn có thể xem ví dụ về những gì được test trong hình A bên dưới.


Hình A: Công cụ chuẩn đoán Domain Controller chạy một số kiểm tra đối với Domain Controller.

Bằng cách nhập vào lệnh DCDIAG quả thực rất đơn giản nhưng thực sự chưa có một bài viết nào giới thiệu cụ thể về các lệnh này. Bên cạnh đó còn có nhiều vấn đề bạn có thể thực hiện với công cụ này. Trước khi có thể đánh giá cao tất cả các tính năng của công cụ này, bạn cần phải thân thiện với các tham số mang tính tùy chọn để sử dụng kết hợp với lệnh DCDIAG. Nếu quan sát vào hình B, bạn có thể thấy được rằng cú pháp của lệnh DCDIAG là quá dài. Giống như hầu hết các lệnh bị phức tạp hóa, nhưng cú pháp của lệnh này lại không tồi như xuất hiện ban đầu của nó. Khi bạn hiểu được cách làm việc của lệnh này, việc sử dụng nó sẽ trở nên đơn giản hơn rẩt nhiều.


Hình B: Cú pháp lệnh DCDIAG rất dài

Ngắt giữa cú pháp lệnh

Như những gì bạn thấy trong hình ở trên, cú pháp cơ bản của lệnh DCDIAG sẽ như sau:

dcdiag.exe /s:<Directory Server>[:<LDAP Port>] [/u:<Domain>\<Username>
/p:*|<Password>|""]
           [/hqv] [/n:<Naming Context>] [/f:<Log>] [/x:XMLLog.xml]
           [/skip:<Test>] [/test:<Test>]

Mặc dù capture màn hình thể hiện trong hình B đã liệt kê những gì một tiếp lệnh thực hiện, nhưng vẫn cần một sự giải thích rõ hơn về chúng. Dưới đây là một số những thông tin chi tiết về các tiếp lệnh này.

/H

Nếu bạn chạy lệnh DCDIAG với tham số /H, nó sẽ hiển thị cú pháp của lệnh này theo như cách thể hiện trong hình B. Nếu quan sát vào hình trên, bạn sẽ thấy rằng bạn cũng có thể sử dụng tiếp lệnh /? để hiển thị cú pháp của lệnh.

/S

Tham số /S cho phép bạn chỉ định một máy chủ (máy chủ này là home server). Về bản chất thì điều này có nghĩa là bạn có thể sử dụng tham số này để chỉ định tên cho Domain Controller mà bạn muốn chạy lệnh DCDIAG với nó. Tuy nhiên trong bài khi chúng tôi chạy lệnh DCDIAG trong hình A, chúng tôi đã không chỉ định máy chủ home server. Nếu bạn không chỉ định home server, khi đó lệnh DCDIAG sẽ tự động chọn ra một máy chủ nào đó.

Có một số ví dụ về vấn đề home server chỉ định sẽ bị bỏ qua. DCPROMO và các bài test Register In DNS được chạy nội bộ thay cho chạy trên một điều khiển miền. Chính vì vậy, nếu bạn muốn chỉ định một home server cho các bài test này, nó sẽ bị bỏ qua. Chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này trong các phần tiếp theo.

/N

Tham số /N cho phép bạn chỉ định một ngữ cảnh tên miền. Trong trường hợp bạn chưa quen với thuật ngữ này, thì cần phải biết được rằng, mọi miền được hiện diện bởi một ngữ cảnh tên miền. Ngữ cảnh tên miền lưu các đối tượng cho miền, các đối tượng ở đây chẳng hạn như người dùng, máy tính, các nhóm,…. Bạn không cần phải chỉ định ngữ cảnh tên miền, nhưng nếu bạn chọn sử dụng một ngữ cảnh thì bạn có thể vào nó là NetBIOS, DNS hoặc biểu mẫu tên miền phân biệt DN.

/U

Trừ khi bạn được đăng nhập như một quản trị viên của miền kiểm tra, bằng không bạn sẽ phải sử dụng lệnh DCDIAG với một số các tiêu chuẩn quản trị. Các tiêu chuẩn quản trị ở đây điển hình vẫn là username và password. Tiếp lệnh /U được sử dụng để chỉ định username. Do bạn đang nhập vào tê của tài khoản với các điều khoản quản trị miền nên bạn sẽ phải nhập vào username theo định dạng domain\username.

/P

Tiếp lệnh khác được sử dụng khi nhập một tập các tiêu chuẩn là tiếp lệnh /P. Theo sau tiếp lệnh này sẽ là một mật khẩu của tài khoản mà bạn đã chỉ định thông qua tiếp lệnh /U.

/A

Active Directory thường được nhóm vào trong các site. Một site điển hình sẽ trưng diện một bộ sưu tập các bộ điều khiển miền có khả năng tin cậy và kết nối tốc độ cao giữa chúng. Cho ví dụ, nếu một tổ chức có hai site khác nhau được kết nối cùng với nhau bởi một liên kết WAN, mỗi một trong các site này sẽ được cấu hình để thực hiện như một site riêng do các máy tính bên trong chúng đều nằm trong một LAN, tuy nhiên không có kết nối LAN giữa các site này.

Nếu tổ chức của bạn được chia thành các site thì bạn sẽ cảm thấy hữu ích đối với tiếp lệnh này. Sử dụng tiếp lệnh này để chỉ thị DCDIAG kiểm tra tất cả các bộ điều khiển miền trong site hiện hành.

/E

Tiếp lệnh The /E cũng giống như tiếp lệnh /E, ngoại từ thay vì việc chỉ thị cho DCDIAG kiểm tra tất cả các bộ điều khiển miền trong site hiện hành, nó chỉ thị cho DCDIAG kiểm tra bộ điều khiển miền trong toàn bộ doanh nghiệp.

/Q

Như những gì bạn có thể thấy, đầu ra của lệnh DCDIAG khá dài. Chính vì vậy bạn rất dễ bị mất các thông báo lỗi trong màn hình đầu ra dài như vậy. Nếu điều đó xảy ra với bạn, bạn có thể sử dụng tiếp lệnh /Q để chạy DCDIAG trong chế độ “Quiet”, chế độ sẽ chỉ liệt kê các thông báo lỗi.

/V

Tiếp lệnh /V là kiểu tiếp lệnh ngược với tiếp lệnh /Q. Trong khi tiếp lệnh /Q giảm kích thước của đầu ra thì tiếp lệnh này lại tăng kích thước đầu ra lên. Theo cách đó bạn có thể biết thêm các thông tin chi tiết về vấn đề mà mình đang muốn khắc phục.

/I

Đôi khi DCDIAG sẽ sinh ra các thông báo lỗi vô nghĩa gây lộn xộn cho những quản trị viên chưa có nhiều kinh nghiệm. Nếu điều đó xảy ra với bạn, bạn có thể sử dụng tiếp lệnh /I để chỉ thị cho DCDIAG bỏ đi các thông báo lỗi không quan trọng.

Kết luận

Trong phần một này chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về một số lệnh cơ bản được sử dụng bởi công cụ chuẩn đoán Domain Controller. Trong phần 2 của loạt bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu về cách sử dụng các tiếp lệnh khác và cách chỉ định các bài test cụ thể mà bạn có thể muốn thực hiện.

Views: 314 | Added by: phuocdat | Date: 14/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Bạn không nhất thiết phải tuân theo một luật lệ nào khi chơi Sudoku, nhưng nếu bạn muốn là cao thủ, giải được các đề khó, Bờm khuyên bạn nên thử nghiệm những kỹ thuật dưới đây. Hãy tìm ra những kỹ thuật hợp với bạn nhất.

1. Ô đơn hiện
Kỹ thuật này còn được gọi là “ứng viên đơn độc”.

Thường xẩy ra trường hợp một ô chỉ điền được vào một số duy nhất sau khi bạn xem xét các con số trong các ô khác thuộc cùng hàng, cột và khối 3x3 với ô đó. Khi đó, hàng, cột và miền 3x3 tương ứng đã chứa 8 con số khác nhau, chỉ còn lại 1 con số duy nhất thích hợp cho ô trống đang xét.

Ví dụ, trong ô số bên dưới, ô được đánh dấu chỉ có thể điền số 6. Tất cả các con số khác đều bị loại trừ do đã có sẵn trong các hàng, cột và miền 3x3.

2. Ô đơn ẩn
Nếu một ô là ô duy nhất trong hàng, cột và miền 3x3 có thể điền vào một số cụ thể nào đó, thì ô đó phải chứa chính số đó.

Lý do là mọi hàng, mọi cột và mọi miền 3x3 đều phải chứa mỗi số từ 1 đến 9. Ví dụ, trong ô số bên dưới, ô được đánh dấu ? là ô duy nhất trong miền 3x3 có thể chứa số 2, nên nó phải được điền vào số 2.

Sau chuỗi loại suy ban đầu, toàn bộ các kỹ thuật còn lại đều hướng đến việc giảm số lượng các ứng viên cho các ô. Mục đích của chúng là giảm các ứng viên đến một mức độ mà hai kỹ thuật đầu tiên có thể áp dụng.

3. Những sự tương tác giữa khối và cột / khối và hàng.
Thỉnh thoảng, khi kiểm tra lại một khối, bạn có thể xác định rằng một số nào đó phải nằm trong một hàng hoặc một cột cụ thể nào đó, dù bạn không thể xác định chính xác nó ở ô nào trong hàng hoặc cột này. Thông tin đó đủ để bạn rút con số đó ra khỏi danh sách ứng viên cho các ô khác trong cùng hàng hoặc cột, nhưng ở ngoài miền 3x3.

Ví dụ, trong hình bên dưới, số 7 trong miền 3x3 đầu tiên chỉ có thể nằm ở cột thứ hai. Điều này có nghĩa là ta có thể loại bỏ số 7 ra khỏi danh sách ứng viên của các ô đã đánh dấu.

Trước hết, nếu một số xuất hiện như ứng viên cho chỉ hai ô trong hai miền 3x3 khác nhau, nhưng cả hai ô này đều nằm trong cùng hàng hoặc cột, thì bạn có thể bỏ số đó ra khỏi danh sách ứng viên của các ô khác trong cùng hàng hoặc cột đó.

4. Các tương tác giữa các khối.
Trước hết, nếu một số xuất hiện như ứng viên cho chỉ hai ô trong hai miền 3x3 khác nhau, nhưng cả hai ô này đều nằm trong cùng hàng hoặc cột, thì bạn có thể bỏ số đó ra khỏi danh sách ứng viên của các ô khác trong cùng hàng hoặc cột đó.

Ví dụ, trong hình dưới đây, những ô đánh dấu * là những ô duy nhất trong các miền 3x3 thứ hai và thứ năm có thể chứa số 3. Điều này có nghĩa là số 3 ở cột thứ tư phải xuất hiện ở miền 3x3 thứ hai và thứ năm. Tương tự như vậy đối với cột năm. Do không thể có số 3 nào khác ở các cột bốn và năm, số 3 có thể loại khỏi danh sách ứng viên của các ô thuộc các cột này trong miền 3x3 thứ tám.

Thứ hai, trong ví dụ bên dưới, các ô được đánh dấu * là các ô trong khối thứ tư và khối thứ sáu có thể chứa số 2. Điều này có nghĩa là số 2 có thể được loại bỏ khỏi danh sách ứng viên của các hàng thứ tư và hàng thứ sáu trong khối thứ năm.

5. Tập hợp con “hiện”
Kỹ thuật này có tên gọi là “bộ đôi hiện” trong trường hợp có hai ứng viên, “bộ ba hiện” trong trường hợp có ba ứng viên, hoặc “bộ tứ hiện” trong trường hợp có bốn ứng viên. Đôi khi, kỹ thuật này còn được gọi là “tập hợp con tách bạch”.

Nếu hai ô trong cùng một hàng, cột hoặc miền 3x3 chỉ có duy nhất hai ứng viên, thì các ứng viên này có thể loại bỏ khỏi danh sách các ứng viên trong các ô khác trong thuộc cùng hàng, cột hoặc miền 3x3. Bởi vì nếu một ô chứa ứng viên này thì ô còn lại phải chứa ứng viên kia. Thành thử cả hai ứng viên đó đều không thể xuất hiện ở bất cứ ô nào khác.

Kỹ thuật này có thể áp dụng cho hai ô trở lên, nhưng trong mọi trường hợp, số ô phải bằng với số các ứng viên. Ví dụ, xét một hàng có các ứng viên sau:
{1, 7}, {6, 7, 9}, {1, 6, 7, 9}, {1, 7}, {1, 4, 7, 6}, {2, 3, 6, 7}, {3, 4, 6, 8, 9}, {2, 3, 4, 6, 8}, {5}

(Số {5} đơn độc cho thấy ô này chỉ có thể điền vào số 5). Bạn có thể thấy rằng có hai ô có cùng chứa hai ứng viên 1 và 7. Một trong hai ô này phải chứa số 1, ô còn lại chứa số 7, dù ta chưa biết cụ thể ô nào chứa 1 và ô nào chứa 7. Như vậy 1 và 7 có thể loại bỏ khỏi danh sách ứng viên trong các ô khác. Điều này làm số lượng ứng viên giảm xuống còn:
{1, 7}, {6, 9}, {6, 9}, {1, 7}, {4, 6}, {2, 3, 6}, {3, 4, 6, 8, 9}, {2, 3, 4, 6, 8}, {5}

Bây giờ bạn có hai ô có chỉ chứa hai ứng viên duy nhất là 6 và 9. Hãy lặp lại quy trình trên để còn lại số ứng viên như sau:
{1, 7}, {6, 9}, {6, 9}, {1, 7}, {4}, {2, 3}, {3, 4, 8}, {2, 3, 4, 8}, {5}

Bây giờ ta bạn lại có một ứng viên đơn độc – có nghĩa là bạn đã giảm thiểu số lượng ứng viên đến mức có thể xác định các giá trị duy nhất có thể điền vào.

6. Tập hợp con “ẩn”
Kỹ thuật này được gọi là “bộ đôi ẩn” nếu lien quan đến hai ứng viên, “bộ ba ẩn” nếu lien quan ba ứng viên, hoặc “bộ tứ ẩn” nếu lien quan bốn ứng viên. Đôi lúc, kỹ thuật này cũng có thể gọi là “tập hợp con độc nhất”.

Kỹ thuật này rất giống kỹ thuật tập hợp con hiện, nhưng thay vì tác động đến các các ô khác trong cùng hàng, cột hoặc miền 3x3, các ứng viên bị loại khỏi các ô chứa tập hợp con. Nếu có N ô, giữa các ô đó có N ứng viên không xuất hiện ở các ô khác trong cùng hàng, cột hoặc miền 3x3, thì có thể loại bỏ bất kỳ ứng viên nào khác cho các ô đó.

Ví dụ, xét một khối có các ứng viên sau:
{4, 5, 6, 9}, {4, 9}, {5, 6, 9}, {2, 4}, {1, 2, 3, 4, 7}, {1, 2, 3, 7}, {2, 5, 6}, {1, 2, 7}, {8}

(Số {8} đơn độc chỉ ra rằng ô này chỉ có thể chứa số 8). Bạn có thể thấy rằng chỉ có ba ô có các ứng viên 1, 3 hoặc 7. (Các ô này cũng chứa các ứng viên khác nhưng đó là những ứng viên có thể loại bỏ). Ba ứng viên với chỉ ba ô có khả năng chứa chúng có nghĩa là mỗi ứng viên phải nằm ở một trong ba ô này. Cho nên hiển nhiên là ba ô này không thể chứa bất kỳ giá trị nào khác, có nghĩa là chúng ta có thể loại bỏ bất kỳ các ứng viên khác khỏi các ô này.

Trong ví dụ này, ta còn lại:
{4, 5, 6, 9}, {4, 9}, {5, 6, 9}, {2, 4}, {1, 3, 7}, {1, 3, 7}, {2, 5, 6}, {1, 7}, {8}

Các tập hợp con hiện và các tập hợp con ẩn liên đới với nhau – Bạn có thể ví chúng như hai mặt của một đồng xu. Nếu một tập hợp con hiện xuất hiện thì một tập hợp con ẩn cũng có mặt, mặc dù để nhận ra nó có thể khó khăn và mất nhiều thời gian hơn. Ngược lại cũng vậy, nếu một tập hợp con ẩn có mặt thì một tập hợp con hiện cũng xuất hiện. Chúng tuân theo mối quan hệ như sau:

Số lượng các con số trong tập hợp con hiện + Số lượng các con số trong tập hợp con ẩn + Số lượng các ô được điền trong đơn vị (hàng/cột/khối) = 9

hoặc trình bày theo cách khác:

Số lượng các con số trong tập hợp con hiện + Số lượng các con số trong tập hợp con ẩn = Số lượng các ô trống trong đơn vị (hàng/cột/khối)

7. Cánh bướm (Nâng cao)
Trong hình dưới đây, những ô duy nhất trong hàng đầu và hàng thứ chín có thể chứa số 9 là những ô được đánh dấu. (Các ô khác trong cùng hàng đã chứa số khác hoặc không thể chứa số 9 bởi vì đã có các số 9 trong cùng cột). Do số 9 phải xuất hiện trong cả hàng thứ nhất và hàng thứ chín, nhưng chúng nhất thiết không thể xuất hiện trong cùng một cột, cho nên số 9 phải hiện diện ô đánh dấu ở trên cùng bên trái và ô đánh dấu ở dưới cùng bên phải chứa số 9, hoặc ô đánh dấu ở dưới cùng bên trái và đánh dấu ô ở trên cùng bên phải. (Không thể là ô dưới cùng bên phải và ô trên cùng bên phải, hoặc ô dưới cùng bên trái và ô trên cùng bên trái, vì nếu vậy sẽ có hai số 9 trong cùng một cột.

Tương tự, không thể là ô trên cùng bên trái và ô trên cùng bên phải, hoặc ô dưới cùng bên trái và ô dưới cùng bên phải, vì nếu vậy sẽ có hai số 9 trong cùng một hàng). Cho nên bạn không thể nói số 9 nằm ở đâu, đỉnh-trái, đáy-phải, hay đáy trái-đỉnh phải, nhưng dù sao bạn cũng có thể loại các số 9 ra khỏi các ô trong cả hai cột. Kết quả là số 9 có thể được loại ra khỏi danh sách ứng viên ở các ô khác trong cả hai cột liên quan.

... Đọc thêm »

Views: 384 | Added by: phuocdat | Date: 13/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Sau khi cài đặt Windows XP Service Pack 2, bạn có thể nhận được thông báo lỗi dưới đây trong System Tray.

"This connection has limited or no connectivity. You might not be able to access the Internet or some network resources. "

Mặc dù vậy các giải pháp cho vấn đề này rất khác nhau, nhưng hầu hết trong số các giải pháp được tìm thấy trên web đều chỉ dừng ở việc giải quyết vấn đề hết sức đơn giản đó là hướng dẫn người dùng tắt bỏ đi thông báo đó. Giải pháp này có thể làm việc tốt cho các hệ thống đang hiển thị lỗi này, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu hệ thống mất kết nối mạng nội bộ của nó hoặc kết nối không ổn định?

Một câu trả lời mang tính tích cực đó là một lỗi trong Service Pack 2 của Windows XP liên quan đến việc mất kết nối mạng cho các máy trạm có sử dụng virtual private networking (VPN) client L2TP của Microsoft để kết nối đến các máy chủ được kết nối đến các mạng NAT. Mặc dù vậy, lỗi nay dường như xuất hiện trong các tình huống không liên quan đến các VPN.

Nếu việc vá Windows XP vẫn không sửa được vấn đề này, bạn hãy đọc danh sách các trường hợp bên dưới để giải quyết. Bạn có thể phải cài đặt lại tường lửa, xây dựng lại cấu hình cho router, giảm tốc độ kết nối từ 100Mbps xuống 10Mbps, hoặc gán các địa chỉ IP tĩnh cho máy tính trong mạng để khắc phục vấn đề này.

Phải làm gì nếu biết hệ thống bị mắc lỗi này?

Nếu bạn đã cài đặt Windows XP Service Pack 2 và vẫn thấy trong số các triệu chứng dưới đây, lỗi này sẽ ảnh hưởng tới hệ thống của bạn.

  • Sau khi cài đặt Windows XP SP2, kết nối mạng của bạn sẽ báo cáo ván đề "Limited or No Connectivity"
  • Bạn gặp phải vấn đề liên quan đến Internet hoặc mạng nội bộ của bạn sau khi cài đặt Windows XP Service Pack 2.
  • Kết nối mạng của bạn bị tắc trong khi "Acquiring IP Address"

Phải thực hiện những gì để giải quyết vấn đề này?

Nếu bạn gặp phải lỗi  này, hãy chạy bản vá Microsoft patch (KB884020) cho nó. Thực hiện theo các hướng dẫn bên dưới để thực hiện điều đó. Cách khác bạn có thể download một file zip có chứa các bản vá, file registry và các hướng dẫn ở đây.

1) Download bản vá từ site của Microsoft

2) Chạy nâng cấp để cài đặt Internet

3) Chạy lỗi Registry này để hoàn tất nâng cấp. Đánh các dòng dưới đây trong Notepad và lưu thành file có tên FixReg.reg trên máy trạm của bạn, sau đó kích đúp để cài đặt vào registry của bạn.

Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\IPSec]
"AssumeUDPEncapsulationContextOnSendRule"=dword:00000002

4) Khởi động lại máy tính của bạn

Nếu bạn vẫn thấy thông báo lỗi này lần nữa, hãy khởi động lại máy tính trước. Trong hầu hết các trường hợp, thao tác này sẽ giải quyết được các vấn đề kết nối không liên quan đến lỗi SP2 này.

Kết nối làm việc, liệu có thể vô hiệu hóa thông báo này không?

Nếu mạng nội bộ của bạn hiện đang làm việc tốt và bạn muốn vô hiệu hóa cảnh báo này, hãy thực hiện theo các bước dưới đây:

1) Mở Control Panel

2) Mở Network Connections và kích chuột phải vào Local Area Connection sau đó kích Properties

3) Hủy chọn tùy chọn dưới đây trên tab General

"Notify me when this connection has limited or no connectivity"

4) Kích OK và đóng cửa sổ Network Connections

Điều gì sẽ xảy ra việc đang cài đặt thì bản vá này không giúp được gì? Các nguyên nhân khác cho vấn đề là gì?

Nếu bạn vẫn thấy xuất hiện thông báo lỗi này thậm chí khi chạy bản vá thể hiện ở trên, có thể bạn sẽ rơi vào một trong số các vấn đề được thể hiện bên dưới:

1) Network hoặc DSL router của bạn có thể lỗi hoặc mất thông tin. Có thể xây dựng lại cấu hình cho router của bạn.

2) Kiểm tra cáp đến Internet của bạn. Bảo đảm rằng bạn có đúng kiểu kết nối với cáp.

3) Kiểm tra card mạng của bạn để bảo đảm rằng nó được cấu hình đúng cách và làm việc đúng. Nhiều khi việc thiết lập card mạng xuống 10Mbps/Full Duplex sẽ giải quyết được vấn đề này. Để thực hiện điều đó, mở Control Panel, System, Device Manager. Vào trang thuộc tính của card mạng, kích vào tab Advanced và tìm đến phần Link Speed và Duplex. Thay đổi nó từ Auto Detect thành 10Mbps/Full Duplex.

4) Kiểm tra và test tường lửa của bạn. Tường lửa của bạn, nhất là nếu phần mềm tường lửa như like ZoneAlarm, Black Ice, Norton Firewall hoặc một phần mềm tường lửa nào đó có thể khóa kết nối của bạn. Hãy vô hiệu hóa tường lửa và test kết nối của bạn. Bạn có thể phải giải quyết vấn đề bằng cách hủy bỏ cài đặt và cài đặt lại tường lửa.

5) Kiểm tra các chỉ đinh của địa chỉ IP và các thiết lập workgroup trong máy tính cho đúng. Gán các địa chỉ IP cho máy tính trong mạng của bạn.

6) Thiết lập lại ngăn xếp TCP/IP bằng cách download và chạy WinsockXPFix.exe một chương trình Visual Basic được thiết kế để khắc phục các vấn đề lỗi TCP/IP, các vấn đề file cấu hình và một loạt các vấn đề kết nối khác.

Views: 332 | Added by: phuocdat | Date: 13/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Có câu chuyện kể rằng khi sáng tạo ra thế giới Thượng đế đã dạy cho mọi vật cách duy trì nòi giống. Với con người, Thượng đế đem một người đàn ông và người đàn bà tới cánh đồng và nói: 'Các ngươi hãy sống và phát triển giống nòi, một năm sau ta sẽ quay trở lại'.

White Cat

Một năm trôi qua, Thượng đế trở lại vào lúc rạng đông, Ngài thấy người đàn ông và người đàn bà ngồi trước ngôi nhà tranh, quanh họ là đồng lúa chín vàng, cạnh họ là chiếc nôi có đứa trẻ đang ngủ. Họ nhìn nhau trong ánh mắt ngời lên vẻ đẹp mà Ngài chưa từng thấy bao giờ, vẻ đẹp lung linh hơn cả bầu trời, êm ả hơn làn gió, ấm áp hơn cả vầng dương. Ngài run lên vì xúc động:
- Ta tạo ra thế giới nhưng chưa từng tạo ra vẻ đẹp đó, nó sinh ra từ đâu nhỉ?
- Thưa Thượng đế, vẻ đẹp ấy chính là tình yêu đấy ạ.
- Tình yêu là cái gì vậy? - Ngài tiến lại gần con người khẩn khoản: Con người hãy dạy ta yêu đi.

Con người thậm chí không nhận ra Thượng đế đang đặt tay lên vai họ. Họ mải mê nhìn vào mắt nhau.

- Con người kia, các người không muốn dạy ta yêu ư? Vậy thì các người sẽ phải già đi, mỗi giây sẽ lấy đi của nhà ngươi tuổi trẻ và sức lực, để xem 50 năm nữa còn lại gì. Thượng đế thét lên.

Đúng như lời hẹn 50 năm sau Thượng đế quay trở lại. Căn nhà tranh đã được thay thế bằng nhà gỗ, trên cánh đồng trai gái say sưa làm việc và hát ca, bày trẻ ríu rít nô đùa. Trên bậc thềm hai cụ già ngồi sát bên nhau, khi thì nhìn lên bầu trời, khi thì nhìn vào mắt nhau trìu mến. Thượng đế không phải chỉ nhìn thấy tình yêu mà Ngài còn nhìn thấy cả lòng chung thủy. Thượng đế giận dữ: "Tuổi già không trùng phạt được các ngươi sao? Vậy thì các ngươi sẽ phải chết, thân xác bị vùi dưới đất, thịt da sẽ mục nát. Bấy giờ ta xem còn lại gi trong mắt các ngươi".

Vài năm qua đi, Thượng đế đến thật. Ngài thấy cụ ông ngồi bên một nấm đất. Dưới đó cụ bà đang yên nghỉ. Đôi mắt ông cụ u buồn song khoé mắt ánh lên tia sáng không chỉ của tình yêu, của lòng chung thủy mà còn có cả sự hoài niệm quá khứ. Ngài đến sát cạnh ông cụ: "Con người, ngươi cứ giữ lấy tuổi thanh xuân cùng sức mạnh. Ngươi xin gì ta cũng đồng ý. Hãy nhường ta tình yêu đi".

Ông cụ đáp: "Kẻ hạ thần không thể làm vừa lòng Ngài được. Hạ thần không muốn đổi lấy những ân huệ đó. Tất cả không thể so sánh được với tình yêu. Giá của tình yêu quá đắt. Nó chỉ có thể trả giá bằng cái chết mà Ngài thì lại bất tử".

Thượng đế đứng đậy lặng lẽ bỏ đi.

***

Em chẳng biết làm sao để anh hiểu giá trị của tình yêu, em càng không muốn để đến khi chết rồi, ngồi khóc bên nấm mộ mới nhận ra tình yêu đáng giá. Em lại càng không muốn con người sẽ mất đi tình yêu vì thế em đã chạy theo nài nỉ Thượng đế hỏi xem Ngài đã đi đâu sau khi cuộc thương thuyết đổi tình yêu lấy cuộc sống bất tử với ông cụ không thành. Thượng đế không trả lời chỉ mỉm cười đầy ẩn ý như muốn nói cuộc sống sẽ không đơn giản như vậy nữa đâu.

Chẳng ai biết Ngài đi đâu, nhưng em đoán rằng Thượng đế đi tạo thêm Phản bội, Ích kỷ, Dối trá và Nghi ngờ. Bởi vì Thượng đế nhận thấy ông cụ đang sống trong thời kỳ sơ khai của loài người. Lúc này con Người còn hồn nhiên và đơn giản lắm. Con người sẽ tiếp tục phát triển và tự phức tạp hoá cuộc sống của mình, vậy nên phải có những khó khăn tương ứng để thử thách tình yêu.

Ngài phải xem trong thời hiện đại, con người giữ gìn nuôi dưỡng tình yêu bằng cách nào. Có thể ngài sẽ nghĩ ra cái gì đó hay ho hơn để thương lượng.

Chứ bây giờ hơn ai hết Ngài biết ông cụ nói đúng: Giá của tình yêu quá đắt. Nó chỉ có thể trả giá bằng cái chết mà Ngài thì lại bất tử.

Views: 450 | Added by: phuocdat | Date: 11/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)


Part 2: continue...
---------------------------------

Audio Codecs I do not delete:

l3codeca.acm....(MPEG Layer-3 Audio Codec for MSACM). Needed by Windows Media Player to play .mp3 music files, and also needed to be able to rip music CDs to the .mp3 format.

l3codecp.acm....(MPEG Audio Layer-3 Codec for MSACM). Needed by Windows Media Player to be able to rip music CDs to the .mp3 format.

wmadmod.dll.....(Windows Media Audio Decoder). Needed by Windows Media Player to play .WMA music files.

wmadmoe.dll.....(Windows Media Audio Encoder/Transcoder). Needed by Windows Media Player ripping process.

---------------------------------

Video Codecs I do not delete:

mpg4dmod.dll....(Corona Windows Media MPEG-4 S Video Decoder). Needed to be able to adjust the brightness in Windows Media Player for certain videos.

WMVDECOD.dll....(Windows Media Video Decoder). Needed to watch MSNBC videos online, and to watch Yahoo Movie Trailers with Windows Media Player 11 installed on your system.

---------------------------------------

BATMETER.DLL....(Battery Meter Helper DLL). Needed to open Power Options in Control Panel.

---------------------------------------

NLS Files

NLS Files are Code Page National Language Support, or National Language Services driver (font or font map).

A WORD OF CAUTION about NLS Files: Delete any one of these you shouldn't, and your system will not reboot. Delete others you shouldn't, and some Webpages will not display.

I live in the United States and have a U.S. computer. If you live outside of the United States, and are using a foreign from U.S. computer, you will need to check within the Layout.ini within your Prefetch folder to see exactly which NLS Files your system uses. The NLS Files you need to at least reboot your computer will be listed there.

Figuring out which other NLS Files are needed to display certain Webpages is a little more complicated. You kind of have to play with them a little.

Here's a trick. Group all your NLS Files together in the system32 folder, and highlight them all. Open any Webpage. Now try to delete all the NLS Files you have highlighted. The one being used by your open Webpage, is the one that won't delete.

For my U.S. computer, I keep these NLS Files:

c_437.nls.......<-- Needed to boot to Windows.
c_932.nls
c_936.nls
c_949.nls
c_950.nls
c_1250.nls
c_1251.nls
c_1252.nls......<-- Needed to boot to Windows.
c_1253.nls
c_1254.nls
c_1255.nls
c_1256.nls
c_1257.nls
c_20127.nls
c_28591.nls
ctype.nls.......<-- Needed to boot to Windows.
l_intl.nls
locale.nls......<-- Needed to boot to Windows.
sortkey.nls.....<-- Needed to boot to Windows.
sorttbls.nls....<-- Needed to boot to Windows.
unicode.nls.....<-- Needed to boot to Windows.

---------------------------------------

cabview.dll.....(Cabinet File Viewer Shell Extension). Needed to view inside .cab files.

---------------------------------------

Needed by Device Manager

CABINET.DLL.....(Microsoft® Cabinet File API). Needed to access Properties of Devices in Device Manager. Also needed by Microsoft Update.

certcli.dll.....(Microsoft® Certificate Services Client). Needed to display Properties of devices in Device Manager.

cryptsvc.dll....(Cryptographic Services). Needed to access Properties of Disk Drives. Also needed by Cryptographic Services, which is needed by Microsoft Update.

devmgmt.msc.....(Computer Management Console). Needed to access Device Manager.
devmgr.dll......(Device Manager MMC Snapin). Needed to access Device Manager.
dmocx.dll.......(TreeView OCX). Needed to access Device Manager.

ESENT.DLL.......(Server Database Storage Engine). Needed to access Properties of Disk Drives. Also needed by Microsoft Update.

mfc42u.dll......(MFCDLL Shared Library - Retail Version). Needed to access Device Manager.
MMC.EXE.........(Microsoft Management Console). Needed to access Device Manager.
mmcbase.dll.....(MMC Base DLL). Needed to access Device Manager.
mmcndmgr.dll....(MMC Node Manager DLL). Needed to access Device Manager.
MSXML3.DLL .....(MSXML 3.0 SP 5). Needed to access Device Manager.
MSXML3R.DLL.....(XML Resources). Needed to access Device Manager.

stdole2.tlb.....(Microsoft OLE 3.50 for Windows NT™ and Windows 95™ Operating Systems). Needed to display Properties of Devices in Device Manager.

storprop.dll....(Property Pages for Storage Devices). Needed to view Advanced Settings tab in Primary IDE Channel and Secondary IDE Channel under IDE ATA/ATAPI controllers in Device Manager.

usbui.dll.......(USB UI Dll). Needed to display Advanced tab in USB Universal Host Controller Properties, and Power tab in USB Root Hub Properties in Device Manager.

WMI.DLL.........(WMI DC and DP functionality). Needed to access Device Manager. Also needed to open Network Connections from Control Panel. And needed to enter Computer Management without first receiving an error.

---------------------------------------

These files comprise CHKDSK

CFGMGR32.DLL....Configuration Manager Forwarder DLL
CHKDSK.EXE......(Check Disk). A disk inspection tool that can search for and repair disk errors.
fmifs.dll.......FM IFS Utility DLL
ifsutil.dll.....IFS Utility DLL
ULIB.DLL........File Utilities Support DLL
untfs.dll.......NTFS Utility DLL

---------------------------------------

CLUSAPI.DLL.....(Cluster API Library). Needed to access Disk Management in Computer Management. Also needed by Microsoft Update to install February 20, 2006 update for Windows Media Player 10. An application programming interface (API) is the interface that a computer system, library or application provides in order to allow requests for service to be made of it by other computer programs, and/or to allow data to be exchanged between them.

CMD.EXE........(Command Prompt). Needed (at the very least) to be able to execute a batch file. An executable that provides the command prompt (MS-DOS shell interpreter) for Windows NT.

---------------------------------------

Needed by Streaming Media

DCIMAN32.DLL....(DCI Manager). Needed by Websites with streaming media.

msdmo.dll.......(DMO Runtime). Without the msdmo.dll present, Windows Media Player will not play...anything. Also, the msdmo.dll is very much needed by Websites with streaming media.

msdxm.ocx.......(Windows Media Player 2 ActiveX Control). Needed by too many Websites with streaming media to not keep this file installed on my system. The msdxm.ocx (DirectX file) and the wmpdxm.dll (Windows Media Player file) work together. The msdxm.ocx is also needed to start Media Player 6.4 (mplayer2.exe).

RTUTILS.DLL.....(Routing Utilities). Needed by Websites with streaming media.

TAPI32.DLL......(Microsoft® Windows™ Telephony API Client DLL). TAPI32.DLL is needed by streaming media on many sites.

vbscript.dll....(Microsoft ® VBScript). Needed by some Websites with streaming media. Also needed by Yahoo Chat.

wmpdxm.dll......(Windows Media 6.4 Player Shim). Needed by too many Websites with streaming media to not keep this file installed on my system. The wmpdxm.dll and the msdxm.ocx (a DirectX file) work together. The wmpdxm.dll is also needed to play media files with Media Player 6.4 (mplayer2.exe).

WMVDECOD.dll....(Windows Media Video Decoder). Needed to watch MSNBC videos online, and to watch Yahoo Movie Trailers with Windows Media Player 11 installed on your system.

---------------------------------------

Needed to watch Yahoo Movie Trailers

dispex.dll.......If this file is deleted, when you click on a link to watch a Yahoo Movie Trailer, two windows will open, each playing the same Trailer you selected. And many times, too, you will receive this error: iedw.exe - Unable To Locate Component. This application failed to start because DBGHELP.dll was not found. Reinstalling the application may fix this problem.

iepeers.dll.....Internet Explorer Peer Objects

msdmo.dll.......(DMO Runtime). The msdmo.dll is very much needed by Websites with streaming media. Also, without the msdmo.dll present, Windows Media Player will not play...anything.

TAPI32.DLL......(Microsoft® Windows™ Telephony API Client DLL). TAPI32.DLL is needed by streaming media on many sites.

wmnetmgr.dll....Windows Media Network Plugin Manager DLL
WMVCORE.DLL.....Windows Media Playback/Authoring DLL

WMVDECOD.dll....(Windows Media Video Decoder). Needed to watch Yahoo Movie Trailers with Windows Media Player 11 installed on your system. Also needed to watch MSNBC videos on ... Đọc thêm »
Views: 1123 | Added by: phuocdat | Date: 09/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)


There are undoubtedly more important reasons for not deleting some of these files, as many files do have multiple uses. The reasons given here why I do not delete these 350 files are just the first good reasons I bumped into. If I couldn't boot to Windows without a particular file, there didn't seem much need to look for other reasons why I should keep it. The same would apply if a Windows feature I use wouldn't work without a particular file.

You will read below about the files necessary to watch Yahoo Movie Trailers. (I'm just using this as one example.) This does not mean those are the only files necessary to watch Yahoo Movie Trailers. It certainly goes without saying you will be needing some Internet Explorer files...just to be able to get to the Yahoo Movie Trailers.

Just as I had Internet Explorer setup before I uncovered which files were necessary for Microsoft Update, the files listed as necessary to watch Yahoo Movie Trailers, I uncovered after I had certain other Windows features setup on my system. For all I know, you may need a Microsoft Update file to watch Yahoo Movie Trailers, but since I had Microsoft Update setup first... Well, you can see what I'm getting at.

It is highly probable too that some files necessary to watch Yahoo Movie Trailers are also needed by other Windows features. You yourself may delete one of the Yahoo Movie Trailer files, thinking you never watch them anyway, and might then discover something else on your system doesn't work.

This principle applies to many many Windows features. Files have multiple uses. It's that simple, and that complicated. This is the very reason I am not a proponent of removing whole Windows components using file-removal programs. Files need to be removed with precision.

---------------------------------------

Needed by Outlook Express

acctres.dll.....(Microsoft Internet Account Manager Resources). Needed to open Outlook Express.

ATL.DLL.........(ATL Module for Windows XP (Unicode). Without this file Outlook Express will not open. You will receive this message when you click on the Outlook Express shortcut: Outlook Express could not be started because MSOE.DLL could not be found. Outlook Express may not be installed correctly. Also needed by Microsoft Update. And needed to open Event and Services Viewers.

inetcomm.dll....(Microsoft Internet Messaging API). Without this file Outlook Express will not open. You will receive this message when you click on the Outlook Express shortcut: Outlook Express could not be started because MSOE.DLL could not be found. Outlook Express may not be installed correctly. Additionally, the inetcomm.dll is needed in order to save a Webpage as an offline Webpage with an .mht extension. Also needed to save an offline Webpage with an .mht extension are the inetres.dll and the MSOERT2.DLL (Outlook Express files), and the MSHTML.TLB (Internet Explorer file).

inetres.dll.....(Microsoft Internet Messaging API Resources). Without this file Outlook Express will not open. You will receive this message when you click on the Outlook Express shortcut: Outlook Express could not be started because MSOERES.DLL could not be found. Outlook Express may not be installed correctly. Additionally, the inetres.dll is needed in order to save a Webpage as an offline Webpage with an .mht extension. Also needed to save an offline Webpage with an .mht extension are the inetcomm.dll and the MSOERT2.DLL (Outlook Express files), and the MSHTML.TLB (Internet Explorer file).

mshtmler.dll....(Microsoft ® HTML Editing Component's Resource DLL). Needed to insert a picture in E-mail.
msident.dll.....Microsoft Identity Manager
msidntld.dll....Microsoft Identity Manager
MSOEACCT.DLL....Microsoft Internet Account Manager

MSOERT2.DLL.....(Microsoft Outlook Express RT Lib). Additionally, the MSOERT2.DLL is needed in order to save a Webpage as an offline Webpage with an .mht extension. Also needed to save an offline Webpage with an .mht extension are the inetcomm.dll and the inetres.dll (Outlook Express files), and the MSHTML.TLB (Internet Explorer file).

sendmail.dll....(Send Mail). The sendmail.dll is a library file used for sending mail via Websites. When you select "Send Link by E-mail" in Internet Explorer's File menu, Outlook Express will attach a URL to your E-mail. When you delete the sendmail.dll file, the "Send To Desktop" will be removed from your right-click context menu. If you UnRegister the sendmail.dll file, the icon for the "Desktop (create shortcut).DeskLink" file in C:\Documents and Settings\USERNAME\SendTo will be erased.

---------------------------------------

Needed by Registry Editor

aclui.dll.......(Security Descriptor Editor). Needed to open Registry Editor.
clb.dll.........(Column List Box). Needed to open Registry Editor.

---------------------------------------

Needed by Event Viewer

ACTIVEDS.DLL....ADs Router Layer DLL
ADSLDPC.DLL.....ADs LDAP Provider C DLL

apphelp.dll......(Application Compatibility Client Library). Should you install SP3, know that the Management Console is now dependent upon the apphelp.dll and will not open without it being present.

ATL.DLL ........ATL Module for Windows XP (Unicode)
ELS.DLL.........Event Viewer Snapin

EVENTLOG.DLL....(Event Logging Service). Without this file present it will take a very long time for your system to boot to Windows.

EVENTVWR.EXE....(Event Viewer Snapin Launcher). Main Service file for Event Log.

eventvwr.msc....(Event Viewer Microsoft Management Console). Without this file present, instead of the Event Viewer opening, Device Manager will.

mfc42u.dll......MFCDLL Shared Library - Retail Version
MMC.EXE.........Microsoft Management Console
mmcbase.dll.....MMC Base DLL
mmcndmgr.dll....MMC Node Manager DLL
MSXML3.DLL .....MSXML 3.0 SP 5
MSXML3R.DLL.....XML Resources

riched20.dll....(Rich Text Edit Control, v3.0). Contains functions for the Rich Text Edit control versions 2.0 and 3.0. Needed to read Information and Error Messages (Event Properties).

riched32.dll....(Wrapper Dll for Richedit 1.0). Contains functions for the Rich Text Edit control version 1.0. Needed to read Information and Error Messages (Event Properties).

---------------------------------------

Needed by Services Viewer

ACTIVEDS.DLL....ADs Router Layer DLL
ADSLDPC.DLL.....ADs LDAP Provider C DLL

apphelp.dll......(Application Compatibility Client Library). Should you install SP3, know that the Management Console is now dependent upon the apphelp.dll and will not open without it being present.

ATL.DLL ........ATL Module for Windows XP (Unicode)
filemgmt.dll....Services and Shared Folders
JSCRIPT.DLL.....Microsoft ® JScript
mfc42u.dll......MFCDLL Shared Library - Retail Version
MMC.EXE.........Microsoft Management Console
mmcbase.dll.....MMC Base DLL
mmcndmgr.dll....MMC Node Manager DLL
MSXML3.DLL .....MSXML 3.0 SP 5
MSXML3R.DLL.....XML Resources

services.msc....(Services Viewer Microsoft Management Console). Without this file present, instead of the Services Viewer opening, Device Manager will.

---------------------------------------

Needed by PerfectDisk

ACTIVEDS.DLL....ADs Router Layer DLL
ADSLDPC.DLL.....ADs LDAP Provider C DLL
MSI.DLL.........(Windows Installer). PerfectDisk 6 needs the MSI.DLL. PerfectDisk 8 does not.
PDBoot.exe......PerfectDisk Boot Time Defragmentation

PDBootState.....Temp file created by PerfectDisk after performing an Offline Defrag. It can be safely deleted, but will return the next time you have PerfectDisk perform an Offline Defrag.

SHFOLDER.DLL....(Shell Folder Service). PerfectDisk 6 needs the SHFOLDER.DLL. PerfectDisk 8 does not.

WTSAPI32.DLL....(Windows Terminal Server SDK APIs). PerfectDisk 6 needs the WTSAPI32.DLL. PerfectDisk 8 does not.

---------------------------------------

Internet Explorer Files I Do Not Delete (See PART 9 for Internet Explorer Files I Delete.)

actxprxy.dll....(ActiveX Interface Marshaling Library). Essential to Internet Explorer.

ADVPACK.DLL.....(Advpack Library). Needed by Microsoft Update. When you delete this file your Microsoft Update Start Menu shortcut (the one created by Microsoft Update) is no longer functional. You can create a new shortcut, but Microsoft Update will still need the ADVPACK.DLL to function.

BROWSELC.DLL....(Shell Browser UI Library). Important for IE Toolbar. The Toolbar will look messed up without it, and you cannot right-click access "Customize" without it.

BROWSEUI.DLL...(Shell Browser UI Library). Needed to boot to Windows.

COMCTL32.DLL...(Common Controls Library). Needed to boot to Windows. Provides the functionality to create and manage screen windows and most basic controls, such as buttons and scrollbars, receive mouse and keyboard input, and other func ... Đọc thêm »
Views: 2633 | Added by: phuocdat | Date: 09/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Vậy là cô và anh chia tay được 6 tháng. Cô không nhớ rõ là chia tay vào ngày nào. Với cô, chuyện đó không quan trọng và không cần thiết.

Cô từng thấy nhiều người nhớ rõ cả ngày giờ, hoàn cảnh và nơi mà họ chia tay. Là do cô vô tâm, hời hợt, trí nhớ cô tồi, hay vì tự nhiên như thế, cô cũng không rõ.

Cô quen anh trong một dịp tình cờ và yêu anh như một lẽ tự nhiên. Lúc cô thấy chán nản và thất vọng nhất, anh là người đã lắng nghe, cho cô lời khuyên, an ủi và vỗ về cô. Cô yêu anh, bởi vì anh không giống như những người cô từng gặp.

Cô vẫn tưởng tình yêu đầu đời đẹp và bền vững, trong mắt cô lúc ấy chỉ có một màu hồng hạnh phúc. Cho đến một ngày...

- Anh nghĩ mình nên chia tay. Như thế sẽ tốt hơn cho em.
- Cho em một lí do khác chính đáng hơn.
- Anh cảm thấy mình không lo được cho em nhiều. Anh bận bịu với công việc và bạn bè. Anh không thể chăm lo cho em. Anh còn vướng bận chuyện gia đình. Vì chúng ta ở xa quá.

Cô lặng đi... Chẳng phải cô ngạc nhiên vì lí do anh đưa ra, cô có thể đoán được, nhưng cô vẫn mong đó không phải là nguyên nhân chính để kết thúc tất cả. Cô nào bắt anh phải chăm lo. Có chăng là những lúc anh không nhắn một tin báo anh về trễ. Cô nổi giận vì lo cho anh. Nhưng cái lo của cô khiến anh bực bội, anh nghĩ cô quản lý và kiểm tra anh. Cô cũng nào bắt anh lựa chọn giữa cô và gia đình. Và một người đàn ông bản lĩnh sẽ biết dung hòa giữa tình yêu, gia đình, bạn bè và công việc. Cô biết việc đó không dễ, nhưng đâu phải là không làm được. 

Cô từng nghĩ, cô và anh ở cách xa nhau mấy trăm cây số, nhưng chỉ cần trái tim luôn hướng về nhau, chỉ cần luôn nghĩ về nhau, vậy là đủ cho một tình yêu bền vững. Anh cũng từng làm cô tin như thế. Anh cũng từng tiếp thêm sức mạnh cho cô. Và, cô đã tin mình làm được. Nhưng cho đến khi anh đưa ra cái lí do đó, cô mới hiểu rằng có một khoảng cách vô hình luôn tồn tại giữ hai người. Và nếu chỉ có một người cố gắng thu hẹp khoảng cách đó, đó chỉ là cố gắng vô vọng.

Thật sự thì cô đã làm được, và ít ra cô không thấy hối hận với bản thân mình. Cô vẫn yêu anh, tin anh. Nhưng anh lại không như thế. Anh qua lại với người yêu cũ trong khi đang quen cô. Anh biện hộ cho việc ấy rằng:

- Anh sợ cô ấy làm chuyện dại dột.
- Sao anh không xem cô ấy sẽ làm chuyện dại dột gì. Cô cười khẩy.

Từ giây phút ấy, niềm tin của cô đối với anh bắt đầu lung lay. Cô đã hết lòng tin tưởng anh, cô đã cố hiểu cho anh, đặt mình vào vị trí của anh để suy nghĩ. Nhưng niềm tin một khi đã sứt mẻ, cô biết sẽ khó có thể cứu vãn được.

Cô chấp nhận cuộc tình tay ba mà không phàn nàn. Chẳng phải cô hiền lành, nhu nhược hay yêu anh quá đỗi. Mà bởi cô có lòng tự trọng, sự kiêu ngạo và bướng bỉnh của bản thân mình, cô nghĩ anh chỉ nhầm đường chốc lát, và cô sẵn sàng đợi anh. Thế rồi anh và cô gái ấy cũng chia tay.

- Sao hai người quay lại rồi lại chia tay?
- Vì không còn hợp như ngày xưa.
- Đơn giản quá anh nhỉ?
- Chẳng phải em nên mừng vì điều đó sao?

Cô nên mừng vì điều đó à? Cô không nghĩ thế. Cô sẽ vui nếu lí do chia tay của hai người đó là do "anh yêu cô". Đằng này, lí do ấy lại không liên quan gì đến cô, vậy thì sao cô lại vui? Vui vì rốt cuộc anh cũng quay lại bên cô ư? Lòng cô rộn lên đôi chút, nhưng là niềm kiêu hãnh thì đúng hơn. Chỉ có thế, không hơn, cũng không kém.

Không lâu sau, cô và anh lại chia tay bởi một lý do không còn gì chính đáng hơn: "Anh yêu người con gái khác".
- Anh không thể. Anh đã nghĩ đến với em thì có thể quên được người đó. Anh đã nghĩ thế. Nhưng anh thật sự mệt mỏi. Anh không làm được. Anh muốn ra nước ngoài bằng bất cứ giá nào.
- Và em sẽ làm vướng chân anh?
- Anh nghĩ vậy.
- Anh yêu người đó, hay muốn ra nước ngoài?
- Cả hai.
- Vậy anh đừng làm cô gái ấy phải khổ. Em có thể chịu được, nhưng chắc người khác thì không. Và làm tổn thương người khác là một cái tội rất lớn.
- Anh xin lỗi.
- Trong tình yêu không có khái niệm ai đúng ai sai nên anh không cần xin lỗi em. Vậy thì mình chia tay. Có lẽ em và anh đã sai ngay từ khi bắt đầu.

Ừ thì chia tay. Cô đã làm mọi việc có thể và bây giờ cô không thấy hối tiếc. Kết thúc một chuyện tình. Một chuyện tình mà cô cứ ngỡ như chuyện cổ tích mà anh và cô là hai nhân vật chính. Có lắm mơ mộng, lắm dự định cho tương lai. Nhưng sẽ chấp hết bởi người đã khơi ra nó. Cô sẽ để anh đến với người cần đến, người anh nghĩ có thể mang đến cho anh một tương lai tươi sáng, tương lai mà cô không thể mang lại cho anh. Có lẽ, hạnh phúc của cô là ở một người khác, không phải là anh. Cô sẽ nghĩ đơn giản thôi: "Anh không phải là một nửa của đời mình".

***

Sau khi chia tay.

Ngày thứ nhất...
Cô thấy thật sự tồi tệ. Nước mắt cô cứ rơi mãi khi cô nhớ về những kỉ niệm của hai người. Cô nhớ cái nắm tay ấm áp của anh, nhớ nụ cười, nhớ cả tấm hình anh vẽ tặng cô. Cô thấy nghẹn đắng trong lòng... Khuya, cô vội choàng tin với tay lấy cái điện thoại và xem có tin nhắn của anh không. Cô làm như một thói quen có từ lâu. Nhưng thói quen ấy bây giờ chỉ làm cô thêm thất vọng.

Ngày thứ hai...
Cô không khóc được nữa. Có lẽ nước mắt của cô nó phản lại chủ, nó muốn cô phải mạnh mẽ lên đây. Cô bỗng nhớ rằng, từ khi yêu anh, cô chưa lần nào khóc trước mặt anh, và anh tưởng rằng cô mạnh mẽ chăng? Cô không rõ. Thường thì cô chỉ khóc một mình, đơn độc, khóc trong nỗi đau chỉ mình cô hiểu. Sau đó cô lại cười thật tươi, cười như chưa có nỗi buồn nào ngự trị trong trái tim cô.

Ai đó nói rằng: "Trong tình yêu không có khoảng cách". Cô cười đau đớn: "Khoảng cách được tạo khi ta nghĩ về nó".

Chia tay anh rồi, cô khép mình lại trong vỏ ốc bản thân. Cô sợ phải tin tưởng một ai đó, và rồi sợ niềm tin sẽ lại đổ vỡ. Cô sợ cái cảm giác nhói nơi tim khi thấy người yêu mình bên cạnh một người khác và phải nghe người ấy bảo rằng "mình chia tay".

Đêm đêm đi dạo trên phố, ánh mắt cô nhìn những cặp tình nhân mà thấy chua xót cho mình. Cô ghen tỵ, đúng, có, nhưng chỉ một chút. Cô biết rằng hiện tại của cô không có những việc ấy. Rồi cô lại lặng lẽ. Những lúc cô đơn, cô cũng thèm lắm một vòng tay ấm áp, thèm lắm một lời nhắc nhở của ai đó. Cô cũng muốn có một bờ vai để dựa vào mỗi lúc cô khó khăn, cô muốn có một ai đó sẽ lau nước mắt cho cô mỗi lần cô khóc. Nhưng cô lại sợ. Nỗi sợ trong cô lớn đến mức cô không cho phép mình yêu ai nữa để rồi cô sẽ lại đau.

Cô lao vào việc học như trốn chạy. Cô muốn mình bận rộn để quên đi nỗi đau. Thật bất ngờ cô quên anh nhanh hơn cô tưởng. Cô tham gia tình nguyện, giúp đỡ trẻ em khó khăn, về những vùng xa xôi hẻo lánh và tìm thấy sự thanh thản trong chính những con người nơi đây. Cô tìm lại nụ cười và nhiệt huyết của bản thân. Cô chợt nhận ra, hạnh phúc quá đỗi bình dị và ngọt ngào, nó gần đến mức cô vô tình không nhận ra.

Cô còn nhiều thứ để học, còn nhiều người để quen, còn nhiều sự quan tâm và lo lắng với nhiều người. Cô qua rồi khoảng thời gian đau khổ và tự gặm nhấm nỗi buồn của bản thân. Cô lại thấy đời thật đẹp và đáng để mình tiếp tục và phấn đấu. Cô viết, viết như trút hết những tâm sự, những kinh nghiệm sống mà cô đã trải qua. Cô không muốn giữ lấy cho riêng mình nữa. Cô muốn chia sẻ với mọi người để cùng nhau chia sẻ và vượt qua. Cuộc sống, với cô như thế đã là hạnh phúc lắm rồi.

Anh bây giờ đã là một chấm rất nhỏ trong trái tim cô. Có người thắc mắc: "Em dễ thay đổi vậy sao?". Cô cười, chẳng phải cô là người dễ thay đổi, mà là cô sẽ chẳng vướng bận với những gì vốn dĩ đã không thuộc về cô. Đôi lúc cô cũng cần thay đổi một chút để thích hợp với nhịp sống vội vã này.

Hôm qua xem phim, cô nghe thấy lời của cô gái: "Em yêu anh vì anh không giống những người đàn ông khác". Cô bật cười, thì cô gái nào khi yêu mà chẳng như vậy. Là cô một thời, cũng yêu thương, cũng tin tưởng và gởi gấm hi vọng. Tiếc thay yêu thương đó bây giờ đã được cô gói lại trong những kỷ niệm đã qua và cất vào một góc trái tim. 

Cô chợt hiểu rằng, chia tay anh, cô "được" nhiều hơn "mất". Thay mái tóc dài mượt bằng một kiểu tóc ngắn cá tính, trông cô năng động và trẻ trung hơn. Cô vẫn là cô, vẫn xinh xắn, đáng yêu, và trưởng thành. Chị bảo cô: "Sao không tìm một tình yêu mới?". Cô cười: "Em đợi chứ em không tìm. Đợi một tình yêu chân thành sẽ đến với em".

Người đời thường trêu nhau bằng một câu trong tình yêu rằng "Tình đến rồi tình đi". Không biết đến khi nào thì cô phá bỏ được quy luật đó, rằng "Tình đến rồi tình ở mãi" . Nhưng cô biết, yêu thương ở đâu đó rất gần bên cô. Rồi... cô sẽ lại yêu.


Views: 304 | Added by: phuocdat | Date: 09/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Tớ viết tên bạn lên mảnh giấy, nhưng sau một tai nạn tớ đã đánh mất nó. Tớ viết tên bạn lên bàn tay, sau một thời gian nó đã phai mờ. Tớ viết tên bạn trên cát, gió thổi bay đi. Nhưng khi tớ viết tên bạn trong trái tim, nó mãi mãi không phai mờ. Thông điệp hôm nay là 'tớ hạnh phúc khi có bạn'.

Một lỗi lầm nào đó được gây ra, nó gạch vào tên bạn trong tim tớ. Tớ thấy đau, nhưng tớ biết bạn còn đau hơn tớ nhiều. Thông điệp hôm nay là "tớ thực lòng xin lỗi bạn".

Tớ luôn nghĩ tớ đang làm điều tốt nhất cho bạn. Nhưng hôm nay tớ phát hiện bạn mới là người đem lại nụ cười và hạnh phúc cho tớ. Hạnh phúc là những gì không thể diễn tả thành tiếng. Là những cái ôm thật chặt, cái ôm mang hơi ấm và yêu thương không lời. Thông điệp hôm nay là "tớ cần có bạn biết bao".

Tớ sợ mất bạn, nên tớ cố gắng ôm bạn thật chặt. Nhưng như ai đó đã nói, nếu bạn nắm chặt cát trong tay, cát cũng sẽ từ từ trôi qua kẽ tay mà đi mất. Tớ muốn giữ chặt bạn, nhưng hình như hành động của tớ vô tình đẩy bạn đi xa hơn. Thông điệp hôm nay là "Hãy trở về bên tớ nhé".

Ai đó bảo rằng chúng ta đã lớn. Nhưng sự thật thì chúng ta vẫn là những đứa trẻ. Quá trẻ để nhìn ra những sự thật đằng sau sự thật. Chúng ta cần thời gian để trưởng thành hơn, để nhìn ra đằng sau cái chúng ta thấy, chúng ta tin là sự thật, sẽ là gì. Thông điệp hôm nay là "tớ sẽ chờ bạn trong suốt thời gian tớ có".

Nếu 1000 điều tốt không thể xóa đi 1 điều xấu tớ gây ra, tớ sẽ tiếp tục làm thêm 1000 điều tốt khác cho bạn, 2000 điều tốt không phải để xóa đi 1 điều xấu kia, vì tình cảm không có phép tính cộng trừ sòng phẳng nhận và cho. Thông điệp của tớ là "tớ muốn ở bên bạn".

Mỗi ngày online tớ chỉ quan tâm đến nick của bạn thôi. Mỗi ngày online, tớ rất mong thấy nick bạn sáng đèn. Không phải để tớ có thể chat với bạn. Tớ chỉ muốn biết bạn vẫn an toàn và đang ở đâu đó bên cạnh tớ. Trên tất cả thì thông điệp tớ muốn nói với bạn hôm nay là "tớ yêu bạn rất nhiều".


Views: 336 | Added by: phuocdat | Date: 09/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

By default, Group Policy does not offer a facility to easily disable drives containing removable media, such as USB ports, CD-ROM drives, Floppy Disk drives and high capacity LS-120 floppy drives. However, Group Policy can be extended to use customised settings by applying an ADM template. The ADM template in this article allows an Administrator to disable the respective drivers of these devices, ensuring that they cannot be used.

Import this administrative template into Group Policy as a .adm file. See the link in the More Information section if you are unsure how to do this.

Disable USB via Group Policy thực hiện như sau:
1/ Mở Nodepad, copy đoạn text dưới đây và Save as dạng .adm file:
 
CLASS MACHINE
CATEGORY !!category
 CATEGORY !!categoryname
  POLICY !!policynameusb
   KEYNAME "SYSTEM\CurrentControlSet\Services\USBSTOR"
   EXPLAIN !!explaintextusb
     PART !!labeltextusb DROPDOWNLIST REQUIRED
 
       VALUENAME "Start"
       ITEMLIST
        NAME !!Disabled VALUE NUMERIC 3 DEFAULT
        NAME !!Enabled VALUE NUMERIC 4
       END ITEMLIST
     END PART
   END POLICY
  POLICY !!policynamecd
   KEYNAME "SYSTEM\CurrentControlSet\Services\Cdrom"
   EXPLAIN !!explaintextcd
     PART !!labeltextcd DROPDOWNLIST REQUIRED
 
       VALUENAME "Start"
       ITEMLIST
        NAME !!Disabled VALUE NUMERIC 1 DEFAULT
        NAME !!Enabled VALUE NUMERIC 4
       END ITEMLIST
     END PART
   END POLICY
  POLICY !!policynameflpy
   KEYNAME "SYSTEM\CurrentControlSet\Services\Flpydisk"
   EXPLAIN !!explaintextflpy
     PART !!labeltextflpy DROPDOWNLIST REQUIRED
 
       VALUENAME "Start"
       ITEMLIST
        NAME !!Disabled VALUE NUMERIC 3 DEFAULT
        NAME !!Enabled VALUE NUMERIC 4
       END ITEMLIST
     END PART
   END POLICY
  POLICY !!policynamels120
   KEYNAME "SYSTEM\CurrentControlSet\Services\Sfloppy"
   EXPLAIN !!explaintextls120
     PART !!labeltextls120 DROPDOWNLIST REQUIRED
 
       VALUENAME "Start"
       ITEMLIST
        NAME !!Disabled VALUE NUMERIC 3 DEFAULT
        NAME !!Enabled VALUE NUMERIC 4
       END ITEMLIST
     END PART
   END POLICY
 END CATEGORY
END CATEGORY
 
[strings]
category="Custom Policy Settings"
categoryname="Restrict Drives"
policynameusb="Disable USB"
policynamecd="Disable CD-ROM"
policynameflpy="Disable Floppy"
policynamels120="Disable High Capacity Floppy"
explaintextusb="Disables the computers USB ports by disabling the usbstor.sys driver"
explaintextcd="Disables the computers CD-ROM Drive by disabling the cdrom.sys driver"
explaintextflpy="Disables the computers Floppy Drive by disabling the flpydisk.sys driver"
explaintextls120="Disables the computers High Capacity Floppy Drive by disabling the sfloppy.sys driver"
labeltextusb="Disable USB Ports"
labeltextcd="Disable CD-ROM Drive"
labeltextflpy="Disable Floppy Drive"
labeltextls120="Disable High Capacity Floppy Drive"
Enabled="Enabled"
Disabled="Disabled"

APPLIES TO
  • Microsoft Windows Server 2003, Standard Edition
  • Microsoft Windows Server 2003, Enterprise Edition
  • Microsoft Windows Server 2003, Datacenter Edition
  • Microsoft Windows Server 2003, Enterprise Edition for Itanium-based Systems
2/ Tạo OU, right click Properties, chọn Group Policy.
3/ Tạo Group Policy: New, đặt tên usbstor (chẳng hạn).Sau đó, chọn Edit.
4/ Trong Group Policy Object Editor, chọn Computer Configuration -> Administrative Templates. Right click Add/Remove Templates, chọn Add và Browse đến file usbstor.adm và Close.
5/ Tại Group Policy Object Editor -> Administrative Templates, chọn Custom Policy Settings và right click View chọn Filtering, bỏ check box Only show policy settings that can be fully managed.
6/ Tại Group Policy Object Editor -> Administrative Templates, chọn Custom Policy Settings -> Restrict Drivers, double click Disable USB, tùy chọn theo mục đích sử dụng (Enable hoặc Disable) ->OK
7/Move các Computers muốn disable USB vào OU. (hoặc áp dụng trên OU đang chứa user cần chỉnh).
8/Start ->Run: gpupdate /force

--------
Để vô hiệu hóa sử dụng các thiết bị lưu trữ USB, sử dụng một trong những thủ thuật sau:

Nếu ổ đĩa USB chưa được cài đặt trên máy tính

Trong trường hợp này bạn chỉ định người dùng hoặc từ chối nhóm ở các file dưới đây:

• %SystemRoot%\Inf\Usbstor.pnf
• %SystemRoot%\Inf\Usbstor.inf

Khi thực hiện như vậy, người dùng không thể cài một ổ USB vào máy tính. Để chỉ định một người dùng mới hoặc từ chối nhóm trong file Usbstor.pnf và Usbstor.inf bạn thực hiện theo các bước sau:

1. Vào Windows Explorer, sau đó vào thư mục %SystemRoot%\Inf.

2. Kích chuột phải vào file Usbstor.pnf sau đó kích Properties.

3. Chọn tab Security.

4. Trong danh sách Group or user names, nhấn người dùng hoặc nhóm mà bạn muốn thiết lập sự từ chối.

5. Trong danh sách Permissions for UserName or GroupName, nhấn để chọn check box Deny bên cạnh Full Control, sau đó kích OK.

Chú ý bổ sung thêm tài khoản hệ thống vào danh sách từ chối (Deny).

6. Kích chuột phải vào file Usbstor.inf, sau đó kích Properties.

7. Chọn tab Security.

8. Trong danh sách Group or user names, kích vào người dùng hay nhóm bạn muốn thiết lập sự hạn chế.

9. Trong danh sách Permissions for UserName or GroupName, chọn check box Deny bên cạnh Full Control, sau đó kích OK.

Nếu ổ USB đã được cài đặt trên máy tính

Khi bạn thực hiện với regedit có thể có những nguy hiểm đối với máy tính nếu thực hiện sai, tồi tệ nhất là bạn có thể phải cài đặt lại hệ điều hành cho máy tính. Microsoft cũng không bảo đảm những vấn đề gây ra với regedit có thể giải quyết được. Trong trường hợp ổ đĩa USB đã được cài đặt trên máy tính thì bạn tiến hành việc vô hiệu hóa như sau:

1. Nhấn Start, sau đó nhấn Run.

2. Đánh regedit sau đó nhấn OK.

3. Vào: HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\
CurrentControlSet\Servic es\UsbStor

4. Ở cửa sổ bên phải, kích đúp Start.

5. Thay đổi giá trị trong hộp bằng 4 sau đó nhấn OK.

6. Thoát khỏi Registry Editor.

Cách tiến hành trên được áp dụng với các phiên bản sau

Microsoft Windows XP Home Edition
Microsoft Windows XP Professional
Microsoft Windows 2000 Advanced Server
Microsoft Windows 2000 Professional Edition
Microsoft Windows 2000 Server
Microsoft Windows Server 2003, Enterprise Edition
Microsoft Windows Server 2003, Standard Edition


Views: 1040 | Added by: phuocdat | Date: 08/07/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Vấn đề tương thích ứng dụng vẫn là một trong những phiền toái nhất đối với người dùng Windows Vista. Khả năng nâng cấp phần mềm lên một phiên bản mới tương tích với Vista không phải lúc nào cũng là lựa chọn. Có thể công ty phát triển ra ứng dụng đó không không mấy hào hứng, hoặc chi phí nâng cấp quá cao. Với Vista, rất nhiều các game cổ điển không thể chạy trong môi trường này, mặc cho người dùng có cấu hình các lựa chọn tương thích đến thế nào đi chăng nữa.

Trong trường hợp đó, bạn cần cài thêm Windows XP song hành cùng với Vista bởi không phải ai cũng có thể làm ngơ trước những tính năng vô cùng mới mẻ và hấp dẫn của Vista. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để cài cả hai hệ điều hành lên cùng một máy, và làm thế nào để hiển thị chế độ khởi động kép cho cả hai.

Khởi động kép cho phép bạn có thể lựa chọn giữa Windows XP và Vista trong bản menu khởi động. Menu này hiển thị ngay sau khi máy tính bật lên. Việc cấu hình cho cả Windows XP và Vista trên cùng một máy có thể có một chút rắc rối tùy thuộc vào việc bạn cài đặt hệ điều hành nào trước.

Windows XP được cài đặt trước

Nếu bạn muốn khởi động kép XP và Vista khi XP đã được cài đặt trước thì mọi việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Chỉ cần khởi động đĩa DVD cài đặt Windows Vista, chọn trình cài đặt “custom”, và cài Vista trên một phân vùng riêng biệt, hoặc một ổ vật lý khác nơi chứa XP. Điều này giúp cho XP không bị ảnh hưởng, và sẽ tự động cài đặt bảng menu khởi động cho cả XP và Vista.

Windows Vista được cài đặt trước

Trong trường hợp bạn đã format ổ cứng (xóa XP) để cài đặt Windows Vista, thì trình cài đặt tiếp theo sẽ rắc rối hơn một chút.

Khởi động PC bằng đĩa CD cài đặt XP rồi cài hệ điều hành này trên một phần vùng khác hoặc một ở vật lý khác ngoài phân vùng/ổ cài Vista. Khi trình cài đặt hoàn tất, máy tính sẽ tự động đăng nhập vào XP. Khi đó, bạn đừng lo gì cả bởi Windows Vista vẫn nằm trên máy tính nếu bạn cài đặt XP vào một phân vùng hoặc ổ vật lý khác.

Khi cài đặt XP, trình quản lý khởi động Vista Boot Manager sẽ bị thay thế bởi các thành phần khởi động Windows XP. Do đó, trình quản lý này cần phải được sửa chữa bằng cách sử dụng đĩa cài Vista. Khi đó, bạn cần khởi động từ đĩa cài Vista, chọn Next trong phần thuộc tính vùng, và sau đó nhấn vào Repair (phần trái phía dưới màn hình). Chọn cài Windows Vista, và sau đó chạy trình Startup Repair. Quá trình này sẽ sửa chữa bảng Windows Boot Manager, và Vista sẽ khởi động một cách tự động.

Sau đó, bạn cần bổ sung thông tin về Windows XP cho bản Windows Boot Manger. Bạn thực hiện tác vụ này trong môi trường Windows Vista: mở cửa sổ “command prompt” (với quyền administrator), và chạy các lệnh sau:

bcdedit /create {ntldr} /d "Windows XP"
bcdedit /set {ntldr} device boot
bcdedit /set {ntldr} path \ntldr
bcdedit /displayorder {ntldr} /addlast

(Chú ý: Nếu khi thực hiện lệnh đầu tiên thấy hệ thống báo lệnh đã tồn tại thì gõ tiếp lệnh thứ hai trở đi.)

Sau đó khởi động lại máy tính và bạn sẽ thấy danh sách hai hệ điều hành trong menu khởi động.
Views: 335 | Added by: phuocdat | Date: 29/06/2009 | Rating: 0.0/0 | Comments (0)

Khung Đăng Nhập


Tìm Kiếm Trong Blog Website
Xem Blog Website Theo Ngày Tháng
«  Tháng 10 2019  »
CNHaiBaNămSáuBảy
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031
Đánh Giá Website
Rate my site
Total of answers: 24
Liên Kết website:

- Tin Tức Tổng Hợp
Báo PC World VietNam
Báo Tuổi Trẻ Online
- - - Nhịp Sống Số
- - - Nhịp Sống Trẻ
Tin Tức nổi bật trong ngày

- Tin Thế Giới
Tin Tức Thế Giới

- Tin Xã Hội
Đối nội - Đối ngoại
Thời sự

- Tin Văn Hóa
Thời trang
Ẩm thực
Du lịch

- Tin Kinh Tế
Tài chính - Ngân hàng
Chứng khoán
Tuyển dụng - Việc làm
Thị trường
Lao động - Công đoàn

- Tin Khoa Học - Công Nghệ
CNTT - Viễn Thông
Khoa học - Tự nhiên
Thiết bị - Phần cứng

- Tin Thể Thao
Bóng đá
Quần vợt

- Tin Giải Trí
Âm nhạc - Phim
Sân khấu - Điện ảnh
Sách báo - Văn thơ

- Tin Pháp Luật
Hình sự
An ninh - Trật tự

- Tin Giáo Dục
Học bổng - Du học
Đào tạo - Thi cử

- Tin Sức Khỏe
Làm đẹp
Tình yêu giới tính

- Tin Ô Tô - Xe Máy
Tin Tức Ô Tô - Xe Máy

- Tin Nhà Đất
Đầu tư - Quy hoạch
Không gian - Kiến trúc

Tìm kiếm Tùy Chỉnh
Email:  PhuocDat@Gmail.com - PhuocDat129@Yahoo.com
Tell: 0937 632373 - 0938 968313 - 2019
Powered by uCoz